Cây di sản, cây chè cổ - Quần thể chè Shan Tuyết Đồng Phúc - Cây di sản Việt Nam
Anh-tin-bai

Nằm ở độ cao 600 - 1.200 m giữa vùng núi phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, 12 cây chè Shan Tuyết cổ thụ tại xã Đồng Phúc được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, trở thành những “địa chỉ” đặc biệt góp phần lưu giữ nguồn gen, cảnh quan và những giá trị văn hóa gắn với cây chè Shan Tuyết.

Ngày 8/12/2025, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam ban hành Quyết định số 298/QĐ-HMTg công nhận quần thể 12 cây chè Shan Tuyết tại xã Đồng Phúc là Cây Di sản Việt Nam. Ngày 12/12/2025, địa phương tổ chức công bố quyết định và đón nhận Bằng công nhận.

Quần thể 12 cây được công nhận thuộc các hộ: Lý Văn Tịnh (05 cây, thôn Phiêng Phung); Mùng Văn Thời (04 cây, thôn Nà Bay); Đặng Văn Chuổng (02 cây, thôn Phiêng Phung); Triệu Văn Dựng (01 cây, thôn Bản Chang). Đây là những cây chè Shan Tuyết cổ thụ nằm trong quần thể khoảng 740 cây được ghi nhận tại 7 thôn của xã Đồng Phúc.

Anh-tin-bai

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc giai đoạn 2024 - 2025, quần thể chè Shan Tuyết Đồng Phúc có tuổi trung bình khoảng 97 năm, nhiều cây trên 100 năm tuổi; chiều cao trung bình 5,3 m và đường kính gốc trung bình 19,2 cm. Riêng khu vực Phiêng Phung có hơn 400 cây trên diện tích khoảng 1,7 ha.

Đồng Phúc là vùng chè Shan Tuyết đặc trưng của phía Bắc Thái Nguyên. Các khu vực Bằng Phúc 1, Bằng Phúc 2 và Bằng Phúc 3 tập trung nhiều cây chè cổ, sinh trưởng trong điều kiện khí hậu mát, độ ẩm cao và địa hình núi cao. Cùng với tuổi đời, quần thể chè còn có giá trị về nguồn gen, cảnh quan và gắn bó lâu đời với đời sống, sinh kế của người dân.

Điều kiện sinh thái vùng núi cao cùng đặc điểm giống Shan Tuyết tạo nên những đặc trưng riêng cho nguyên liệu: Búp to, dày, phủ phấn trắng; nước vàng xanh, trong; vị chát dịu, hậu ngọt và hương thơm đặc trưng vùng núi.

Anh-tin-bai

Việc công nhận 12 cây chè Shan Tuyết là Cây Di sản Việt Nam tạo thêm cơ sở để Đồng Phúc bảo tồn quần thể chè cổ, nguồn gen và cảnh quan; đồng thời phát huy giá trị thông qua sản xuất, chế biến, xây dựng sản phẩm đặc trưng và phát triển các hoạt động trải nghiệm phù hợp.

Từ quần thể khoảng 740 cây chè cổ, trong đó có 12 cây được công nhận Cây Di sản Việt Nam, Đồng Phúc có thêm một giá trị đặc trưng để gắn bảo tồn với phát triển, gìn giữ không gian chè Shan Tuyết và nâng cao giá trị kinh tế, văn hóa của vùng chè.

Anh-tin-bai

Trên đỉnh núi Tam Đảo, thuộc địa phận xã La Bằng, tỉnh Thái Nguyên, giữa không gian rừng tự nhiên ở độ cao hơn 1.300 m, các nhà khoa học đã phát hiện một quần thể chè cổ có kích thước lớn và nhiều đặc điểm khác biệt. Những cây chè mọc tự nhiên giữa rừng không chỉ gây chú ý bởi tuổi đời và hình thái, mà còn mở ra hướng nghiên cứu về nguồn gen và lịch sử cây chè trên đất Thái Nguyên. 

Anh-tin-bai

Thông tin về những cây chè cổ trên núi Tam Đảo được người dân địa phương biết đến từ trước năm 2025. Qua các đợt khảo sát thực địa, các nhà khoa học và chuyên gia chè đã tiếp cận khu vực này, ghi nhận một quần thể khoảng 18 cây chè cổ, có chu vi gốc từ 80 - 150 cm. Một cây được khảo sát có chiều cao khoảng 12 - 13 m, chu vi gốc 88 cm và được ước tính ban đầu trên 150 năm tuổi. Tuy nhiên, tuổi chính xác của các cây chè chưa được xác định bằng phương pháp khoa học.

Điểm đặc biệt của quần thể chè này nằm ở môi trường sinh trưởng và đặc điểm hình thái. Những cây chè cao hàng chục mét, thân lớn, phủ rêu, mọc xen giữa rừng tự nhiên. Lá có bản dày; búp có hình dạng giống măng và được mô tả có nét tương đồng với “móng rồng”. 

Anh-tin-bai

Qua khảo sát, các nhà khoa học nhận định quần thể có một số đặc điểm của giống chè Shan. Tuy nhiên, đây mới là nhận định dựa trên đặc điểm hình thái. Để xác định chính xác nguồn gốc và mối quan hệ di truyền của quần thể, các nhà khoa học đã thu thập mẫu lá, cành, búp, hoa và các bộ phận khác để nghiên cứu. Phân tích nguồn gen, đặc biệt là giải trình từ ADN mới có thể đưa ra kết luận chắc chắn về giống chè.

Một hướng nghiên cứu đáng chú ý là so sánh chè cổ Tam Đảo với quần thể chè cổ núi Bóng cũng thuộc khu vực Đại Từ (cũ) - nay là xã Đức Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Qua quan sát, hai quần thể có những khác biệt về hình thái lá, răng cưa, búp và màu vỏ thân. Chẳng hạn, chè cổ Tam Đảo có lá dày, búp dạng măng; trong khi chè núi Bóng có lá dài, mỏng và răng cưa rõ hơn. Những khác biệt này là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, nhưng chưa đủ để khẳng định hai quần thể thuộc các nguồn gen khác nhau.

Một số chuyên gia, nghệ nhân cho rằng giống chè cổ này có thể liên quan đến lịch sử hình thành các giống chè bản địa của Thái Nguyên. Có ý kiến cho rằng đây có thể là “tổ” của chè Thái Nguyên. Tuy nhiên, đây mới là giả thuyết, chưa phải kết luận khoa học đã được xác lập.

Đáng chú ý, tư liệu lịch sử được Báo và Phát thanh, Truyền hình Thái Nguyên dẫn lại cho biết, từ đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu người Pháp Ph. Ebevharart từng ghi nhận những cây chè dại mọc trong rừng Tam Đảo, ở độ cao khoảng 900 m, cây cao 8 - 10 m, đường kính thân khoảng 40 cm. Tư liệu này cho thấy cây chè mọc tự nhiên trên vùng núi Tam Đảo đã từng được ghi nhận từ hơn một thế kỷ trước.

Tuy nhiên, chưa có cơ sở để khẳng định những cây được phát hiện hiện nay chính là quần thể đã được mô tả trong tư liệu lịch sử. Điều có thể khẳng định là sự tồn tại của những cây chè cổ giữa rừng Tam Đảo đang bổ sung một dữ liệu đáng chú ý cho quá trình nghiên cứu lịch sử và nguồn gen cây chè ở Thái Nguyên. 

Anh-tin-bai
Anh-tin-bai

Tại núi Bóng, xã Đức Lương, tỉnh Thái Nguyên, những cây chè cổ có kích thước lớn, sinh trưởng xen giữa các tầng cây đã được các nhà khoa học quan tâm. Không chỉ đặc biệt về hình thái và môi trường sinh trưởng, quần thể này còn đặt ra nhiều câu hỏi về tuổi đời, nguồn gốc và đặc điểm nguồn gen của cây chè trên vùng đất Thái Nguyên.

Núi Bóng thuộc địa bàn xã Đức Lương, tỉnh Thái Nguyên, trước đây thuộc xã Minh Tiến, huyện Đại Từ. Đỉnh núi cao khoảng 851 m so với mực nước biển; những cây chè cổ được ghi nhận phân bố chủ yếu ở độ cao khoảng 600 – 800 m.

Khác với những vùng chè sản xuất được trồng thành nương, đồi, các cây chè tại núi Bóng sinh trưởng xen trong không gian rừng. Qua các đợt khảo sát, ít nhất 30 cây chè cổ đã được ghi nhận. Nhiều cây có chiều cao khoảng 20 - 30m, thân lớn, tán vươn cao. Tại độ cao khoảng 740 m, một cây chè được đo có chu vi thân tới 160 cm; ở độ cao khoảng 690 m, một số cây có chu vi gốc khoảng 90 -100 cm, cao 20 - 25 m.

Tuổi đời chính xác của quần thể chè cổ núi Bóng hiện chưa được xác định bằng phương pháp khoa học đủ cơ sở để đưa ra kết luận cuối cùng.

Tại địa phương lưu truyền câu chuyện về những cây chè đã tồn tại hàng trăm năm. Dựa trên lời kể truyền qua nhiều thế hệ, khu rừng núi Bóng có một số cây chè lớn có thể gần 300 năm tuổi. Đây là những ước tính dựa trên kinh nghiệm và truyền ngôn.

Câu chuyện về tuổi cây còn gắn với giả thuyết cho rằng quần thể chè có thể xuất hiện từ thời nhà Mạc. Tại khu vực núi Bóng còn lưu truyền dấu tích được gọi là thành nhà Mạc, cùng những câu chuyện về giếng nước và các vật dụng cổ được tìm thấy trong khu vực.

Ở góc độ rộng hơn, Đại Nam nhất thống chí thời Nguyễn đã ghi nhận chè là sản vật tại Phú Lương, Động Hỷ, Đại Từ và Phổ Yên, đồng thời đánh giá chè Thái Nguyên có vị ngon hơn chè ở nhiều nơi khác. Tư liệu này cho thấy cây chè đã hiện diện lâu đời trên vùng đất Thái Nguyên; các quần thể chè cổ còn tồn tại có thể cung cấp thêm tư liệu thực địa cho việc nghiên cứu lịch sử cây chè của địa phương. 

Anh-tin-bai

Qua khảo sát bước đầu, các nhà khoa học ghi nhận cây chè núi Bóng có những đặc điểm hình thái đáng chú ý. Lá được mô tả mỏng, dài, đầu lá nhọn và có những khác biệt nhất định so với quần thể chè cổ trên đỉnh Tam Đảo cũng như một số giống chè đang được trồng phổ biến.

Tuy nhiên, hình thái cây chưa đủ để xác định chính xác tên giống hay nguồn gốc di truyền. Vì vậy, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tiến hành thu thập mẫu, sử dụng công nghệ sinh học phân tử để phân tích ADN và đối chiếu với các nguồn gen chè khác.

Các mẫu so sánh gồm chè cổ thụ ở một số địa phương như Hà Giang, Yên Bái, khu vực phía Bắc tỉnh Thái Nguyên và các mẫu chè trung du búp xanh, búp tím, búp vàng của Thái Nguyên. Kết quả phân tích, so sánh sẽ là cơ sở để làm rõ hơn quan hệ di truyền và đặc điểm nguồn gen của chè núi Bóng.

Năm 2024, Hội đồng Khoa học tỉnh Thái Nguyên thông qua đề tài “Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây chè cổ thụ núi Bóng, xã Minh Tiến, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”, do Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên chủ trì thực hiện.

Nội dung nghiên cứu tập trung khảo sát số lượng, đặc điểm sinh trưởng, hình thái và thu thập mẫu phục vụ đánh giá nguồn gen. Sau khi có kết quả, nhóm nghiên cứu định hướng bảo tồn theo hai hình thức: Bảo tồn tại chỗ đối với những cây đang sinh trưởng trong môi trường vốn có và bảo tồn chuyển chỗ thông qua lựa chọn, nhân giống những cây có chất lượng, đặc điểm phù hợp để lưu giữ nguồn gen và phục vụ nghiên cứu, phát triển.

Cùng với nghiên cứu khoa học, việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận những cây chè cổ núi Bóng là Cây Di sản Việt Nam cũng được đặt ra. Đây là một hướng nhằm ghi nhận giá trị và tăng cường trách nhiệm bảo vệ quần thể, song không thay thế cho yêu cầu xác định tuổi đời, nguồn gốc và đặc điểm di truyền bằng các phương pháp khoa học.

Anh-tin-bai