Cây chè đã gắn bó lâu đời với đất và người Thái Nguyên. Những ghi chép trong tư liệu lịch sử cho thấy chè từng là một sản vật nổi tiếng của vùng đất này.
Trong hệ thống thư tịch cổ, vùng đất Thái Nguyên sớm được định vị rõ nét. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư do sử thần Ngô Sĩ Liên biên soạn (hoàn thành năm 1479) đã cung cấp thông tin về không gian lịch sử quan trọng về Thái Nguyên thời kỳ trung đại. Tuy nhiên, những ghi chép trực tiếp mang tính xác tín về sự tồn tại của cây chè với tư cách là một sản vật địa phương danh tiếng lại được cụ thể hóa rõ nét trong bộ bách khoa địa chí Đại Nam nhất thống chí (Tập 4, quyển XX) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào nửa cuối thế kỷ XIX ghi rõ ở mục "Sản vật và thổ sản", tài liệu này đã mô tả về "Chè nam" một cách trang trọng: "Chè nam: Sản ở các huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phổ Yên vị ngon hơn chè ở các nơi khác. Danh xưng "Chè Nam" mang hàm ý phân biệt rạch ròi hệ thực vật bản địa sinh trưởng tại phương Nam so với các loại trà có nguồn gốc nhập khẩu từ phương Bắc, đồng thời khẳng định vị thế ưu việt về chất lượng của chè Thái Nguyên. Dưới triều đại phong kiến, cây chè Thái Nguyên được thiết chế hóa, công nhận là sản vật quốc gia thượng hạng, mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn. Văn bản Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi
nhận trà không chỉ là thức uống dân dã mà đã được thăng hoa thành lễ vật mang tính nghi thức bắt buộc trong các hoạt động cúng tế của hoàng gia, đồng thời là mặt hàng ngoại giao mang tính chiến lược dùng để thiết đãi sứ thần. Sự quan tâm của triều đình nhà Nguyễn còn được thể hiện qua việc thiết lập các đội ngũ chuyên trách hái chè và ban hành hệ thống thuế khóa nghiêm ngặt, minh chứng cho tầm quan trọng của ngành chè trong hệ thống quản lý nhà nước đương thời.
Bước sang giai đoạn giao thời cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nghề chè Thái Nguyên trải qua một cuộc chuyển đổi mang tính bước ngoặt: Từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền sản xuất hàng hóa tập trung. Tân Cương nổi lên như một hình mẫu tiêu biểu cho sự chuyển đổi này. Theo tư liệu lịch sử địa phương, vào đầu thế kỷ XX, ông Vũ Văn Hiệt (thường được dân gian tôn kính gọi là Đội Năm) là người có công tiên phong di thực giống chè trung du từ Phú Thọ về ươm trồng tại vùng đồi Tân Cương. Dưới bàn tay chăm sóc của cư dân, cây chè nhanh chóng thích ứng với các điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu đặc thù của Tân Cương. Đến giữa thập niên 20, tư duy tổ chức chế biến và thương mại hóa sản phẩm chè bắt đầu bùng nổ. Đỉnh cao của tiến trình này là sự kiện năm 1935, khi thương hiệu chè "Cánh hạc" của vùng Tân Cương xuất sắc đoạt giải Nhất tại cuộc thi Đấu xảo Hà Nội, chính thức đưa danh tiếng chè Thái Nguyên vang danh toàn quốc.
Giai đoạn sau năm 1954 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của ngành chè dưới sự định hướng của Nhà nước thông qua việc kiến thiết hệ thống các nông trường quốc doanh và mô hình hợp tác xã quy mô lớn. Diện tích canh tác được mở rộng không ngừng, sản phẩm chè Thái Nguyên không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn vươn ra thị trường xuất khẩu, đưa cây chè trở thành xương sống của nền kinh tế nông nghiệp địa phương.
Song song với đó, cơ cấu giống chè cũng được đa dạng hóa; bên cạnh nguồn gen chè trung du cổ, nhiều giống chè lai tạo mới được đưa vào canh tác nhằm tối ưu hóa năng suất và chất lượng.
Về mặt di chỉ sinh thái, bên cạnh các chứng cứ thư tịch, thực địa tỉnh Thái Nguyên hiện vẫn bảo lưu được nhiều quần thể chè cổ thụ vô giá. Năm 2011, các nhà khoa học đã khảo sát và phát hiện khoảng 30 cây chè cổ thụ (chiều cao lên tới 25 m, niên đại ước tính 300 năm tuổi) tại khu vực đỉnh núi Bóng, xã Đức Lương, huyện Đại Từ (trước sáp nhập). Gần đây hơn, một quần thể gồm gần 20 cây chè cổ thụ (tuổi trung bình trên 200 năm) đã được tìm thấy tại sườn Đông đỉnh Tam Đảo thuộc xã La Bằng ở độ cao trên 1.300 m. Đặc biệt, xã Đồng Phúc tự hào sở hữu quần thể 12 cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Cây di sản Việt Nam. Những dữ liệu vật chất sinh động này đã mở rộng biên độ nhận thức về bề dày lịch sử hàng thế kỷ của sinh thể cây chè trên đất Thái Nguyên.
Đến nay, di sản chè đã có sự định danh vững chắc. Năm 2023, "Tri thức trồng và chế biến chè Tân Cương" đã vinh dự được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Cùng với Tân Cương, hệ thống "Ngũ đại danh trà" (bao gồm Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Khe Cốc, Đồng Phúc) đã thiết lập nên những không gian văn hóa chè đa dạng, phản ánh năng lực sáng tạo nội sinh của người dân. Tại La Bằng, tri thức trồng chè bằng hạt theo phương pháp "bổ lỗ" cổ xưa đã nhường chỗ cho kỹ thuật trồng theo hàng lối, đi kèm với sáng kiến tưới tiêu tạo "chè đông" từ năm 1992, mang lại hiệu quả kinh tế đột phá. Tại Khe Cốc, vùng chè được định hình từ những biến động dân cư thập niên 70 của thế kỷ trước, tạo nên những đồi chè hữu cơ sinh thái hiện đại. Tại Đồng Phúc, quần thể chè Shan tuyết sinh trưởng đồng điệu cùng bản làng của người Dao, Tày, Kinh, tạo nên cảnh quan văn hóa tâm linh đặc sắc. Tại Phú Lạc, diện tích chè lên tới trên 1.100 ha đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ từ bán nguyên liệu thô sang chế biến sâu, hình thành các làng nghề chè tạo động lực phát triển kinh tế.
Để hiện thực hóa khát vọng đưa cây chè trở thành "cây trồng tỷ USD", mang lại giá trị trên 25.000 tỷ đồng vào năm 2030, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 03/02/2025, kiến tạo nền tảng chính sách vững chắc cho chu kỳ phát triển mới của cây chè Thái Nguyên.
Hiện nay, cây chè được trồng tại nhiều địa phương, hình thành những vùng sản xuất tập trung và các không gian văn hóa trà đặc trưng như: Tân Cương, La Bằng, Văn Lăng, Vô Tranh, Đồng Hỷ, Văn Hán, Đồng Phúc, Đại Từ, Phú Lạc, Đức Lương, Đại Phúc, Yên Trạch, Phú Lương, Hợp Thành, Trại Cau… Trong đó, Tân Cương, La Bằng, Khe Cốc, Trại Cài và Đồng Phúc được định danh là “Ngũ đại danh trà” của Thái Nguyên, đại diện cho những vùng sinh thái, sản xuất và văn hóa trà tiêu biểu của tỉnh.
Đến tháng 9-2026, toàn tỉnh có gần 24.000 ha, trong đó khoảng 23.000 ha đang cho thu hoạch, sản lượng chè búp tươi ước đạt khoảng 285.000 tấn/năm, giá trị thương mại do sản phẩm trà mang lại đạt hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm. Toàn tỉnh có hơn 90 nghìn nông hộ trồng và chế biến chè, 180 làng nghề chè truyền thống, 160 hợp tác xã và 120 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè. Nhãn hiệu tập thể chè Thái Nguyên đã được bảo hộ tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ là Mỹ, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan. Chỉ dẫn địa lý “chè Tân Cương” đã được bảo hộ tại Liên minh châu Âu.
Cùng với mở rộng diện tích, sản xuất chè đang chuyển mạnh theo hướng nâng
cao chất lượng và giá trị. Đến năm 2026, diện tích chè sản xuất theo tiêu chuẩn
VietGAP và hữu cơ đạt gần 6.700 ha, trong đó diện tích chè hữu cơ hơn 186 ha.
Nhiều hợp tác xã đã triển khai sản xuất chè hữu cơ như Tâm Trà Việt, Tiến Yên, Hảo
Đạt, Văn Hán, La Bằng, Nhật Thức và đang tiếp tục mở rộng liên kết.
Một số sản phẩm trà đã đạt các giải thưởng quốc tế như: Giải Đặc biệt tại Bắc
Mỹ năm 2017, giải Bạc tại Pháp năm 2018 và giải đồng tại Australia năm 2024 cùng
với 203 sản phẩm trà được chứng nhận OCOP: 3 sản phẩm 5 sao cấp quốc gia, 29
sản phẩm 4 sao và 171 sản phẩm 3 sao. Thái Nguyên đã trở thành địa phương có
diện tích, sản lượng, giá trị thu nhập từ cây chè cũng như giá trị sản phẩm thu được
trên một héc-ta đất trồng chè lớn nhất cả nước.
Điều đáng quý là cho đến nay nghề làm chè ở Thái Nguyên vẫn giữ phần lớn
quy trình sản xuất, bán thủ công, xu hướng hữu cơ, đậm chất làng nghề, giàu tính
văn hóa. Quy trình làm nên một sản phẩm trà thường bắt đầu từ nương chè trên các
đồi thấp, thoai thoải, được chia lô chăm sóc bằng tay. Người trồng chè ở đây vẫn
quen hái búp tôm một lá non vào sáng sớm khi sương còn đọng trên lá để giữ được
hàm lượng, chất lượng và chất hương tự nhiên cao nhất. Thời điểm hái phụ thuộc
vào thời tiết. Sau khâu thu hái là hàng loạt công đoạn như xao, vò, hong, lên hương,
bảo quản. Mỗi bước đều đòi hỏi sự tinh tế, kinh nghiệm và cả lòng say nghề, yêu
chè. Có gia đình đã truyền nghề sao chè qua ba bốn đời, chỉ cần đưa tay sờ búp chè
đang sao là biết đã chín tới chưa. Chính sự tinh tế này làm nên khác biệt, trà Thái
Nguyên giữ được màu nước xanh vàng, vị chất thanh, hậu ngọt sâu lắng. Một phần
quan trọng tất nhiên là nhờ giống nhưng còn phần khác không kém quan trọng là
nhờ bàn tay người làm chè.