Thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên năm 2011
Ngày 24 tháng 11 năm 2011, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Báo cáo số 116/BC-UBND Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011

 

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011

I. Hoạt động chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh

Bước vào năm 2011khó khăn và thách thức đều lớn hơn so với dự báo. Giá lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, lạm phát cao và mặt bằng lãi suất tăng cao, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng kinh tế chậm lại... Trên địa bàn tỉnh, tình trạng tồn kho sản phẩm công nghiệp, đặc biệt là sản phẩm thép, xi măng tương đối lớn; dịch bệnh trên đàn gia súc kéo dài; giá tiêu dùng liên tục tăng và ở mức cao dẫn đến sức mua của dân cư giảm; tiến độ triển khai các dự án lớn trên địa bàn tỉnh chậm, kéo dài... đã ảnh hưởng đến tốc độ phát triển chung về kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trước tình hình đó, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp chủ yếu điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; kịp thời thực hiện hiệu quả các giải pháp của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; tập trung có trọng tâm, trọng điểm và bám sát chủ đề của năm; đẩy mạnh công tác quy hoạch, cải cách hành chính và thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể và vai trò cá nhân lãnh đạo; duy trì chế độ họp UBND tỉnh theo đúng quy chế làm việc để chỉ đạo, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, đảm bảo chế độ báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương theo đúng quy định và thẩm quyền.

Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Ủy viên UBND tỉnh thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công phụ trách về ngành, lĩnh vực và tình hình thực hiện nhiệm vụ của các huyện, thành phố, thị xã. Duy trì chế độ họp giao ban hàng tuần giữa Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh và Văn phòng UBND tỉnh, một số Sở, ngành liên quan để bàn, thống nhất các nội dung chỉ đạo, điều hành và giải quyết các vấn đề phát sinh vướng mắc. Hoạt động chỉ đạo điều hành của UBND cũng như chính quyền các cấp được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các chương trình, đề án, dự án, công trình trọng điểm; đồng thời thường xuyên kiểm tra, nắm bắt tình hình cơ sở, phát hiện và xử lý kịp thời những vướng mắc, giúp các đơn vị, địa phương thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Với các giải pháp chỉ đạo, điều hành tích cực, thực hiệnkịp thời và hiệu quả các chỉ đạo của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, UBND tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc làm việc, báo cáo trực tiếp với Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và cáccơ quan, đơn vị trong và ngoài nước để tăng cường các giải pháp chỉ đạo, điều hành và huy động các nguồn lực nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng; đã chỉ đạo các ngành chuyên môn xây dựng và trình HĐND tỉnh ban hành nhiều nghị quyết tại các kỳ họp trong năm, thống nhất chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương.

II. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011

1.    Các chỉ tiêu chủ yếu:

Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh, kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện và nâng cao. Tổng sản phẩm trong tỉnh - GDP theo giá so sánh đạt 6.958 tỷ đồng (theo giá thực tế là 25.418 tỷ đồng); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 21,28%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 41,77%; khu vực dịch vụ chiếm 36,95% (năm 2010 có cơ cấu tương ứng: 21,76%-41,32%-36,92%). Trong số 18 chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội chủ yếu, có 14 chỉ tiêu hoàn thành và vượt kế hoạch, có 4 chỉ tiêu đạt thấp hơn mục tiêu kế hoạch.

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn ước đạt 9,36%([1](không đạt mục tiêu kế hoạch là trên 12%).

2. GDP bình quân đầu người ước đạt 22,3 triệu đồng, vượt kế hoạch và tăng 4,8 triệu đồng/người so với năm 2010.

3. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) trên địa bàn ước đạt 13.200 tỷ đồng, bằng 90,2% kế hoạch và tăng 13,7% so với năm 2010 (không đạt mục tiêu kế hoạch là 14.640 tỷ đồng).

4. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 134,2 triệu USD, bằng 122% kế hoạch, tăng 35,7% so với cùng kỳ; trong đó: xuất khẩu địa phương là 107,6 triệu USD, bằng 125,1% kế hoạch, tăng 37,3% so với năm 2010.

5. Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 3.265 tỷ đồng; trong đó, thu trong cân đối ngân sách ước đạt 2.915 tỷ đồng, tăng 12,6% so với dự toán, thu quản lý qua ngân sách ước đạt 350 tỷ đồng.

6. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (theo giá so sánh) ước đạt 2.560 tỷ đồng, tăng 4,34% so với năm 2010 (không đạt mục tiêu kế hoạch tăng 6%).

7. Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt (theo giá thực tế) ước đạt 68 triệu đồng, tăng 9 triệu đồng/1haso với mục tiêu kế hoạch và tăng 13 triệu đồng so với năm 2010, tương ứng với tăng 23,6% (trong đó tăng từ yếu tố giá là 18% và tăng 5% về giá trị sản lượng).

8. Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 449,5 nghìn tấn, bằng 111,3% kế hoạch, tăng 8,3% so với năm 2010.

9. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm ước đạt 680 tỷ đồng, giảm 1,89% so với năm 2010 (không đạt mục tiêu kế hoạch là tăng 9,3%).

10. Diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh (từ tất cả các nguồn vốn) ước đạt 5.759 ha, bằng 96% kế hoạch và giảm 20% so với năm trước; trong đó, đơn vị địa phương quản lý trồng được 5.564 ha, bằng 101,2% kế hoạch.

11. Diện tích chè trồng mới và trồng lại được 1.122 ha, bằng 112,2% kế hoạch, tăng 54,3% so với trồng mới năm 2010.

12. Tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 51%, đạt muc tiêu kế hoạch.

13. Tỷ lệ số hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ở nông thôn (theo tiêu chí mới) là 75%, đạt mục tiêu kế hoạch.

14. Giảm tỷ suất sinh thô trên địa bàn ước đạt 0,1%o so với năm 2010, đạt mục tiêu kế hoạch.

15. Số lao động được tạo việc làm mới ước đạt 22.000 lao động, vượt 37,5% kế hoạch năm; trong đó xuất khẩu đạt 1.000 lao động, bằng 50% kế hoạch.

16. Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn đạt 2,1% so với năm 2010, đạt mục tiêu kế hoạch.

17. Giảm tỷ lệ trẻ em (dưới 5 tuổi) suy dinh dưỡng xuống còn 16%, đạt mục tiêu kế hoạch.

18. Đảm bảo an ninh trật tự xã hội và công tác quân sự địa phương, hoàn thành 100% các chỉ tiêu đề ra.

2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực cụ thể, như sau:

2.1. Về lĩnh vực kinh tế:

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) trên địa bàn ước đạt 13.200 tỷ đồng, tăng 13,7% so với năm trước và bằng 90,2% kế hoạch cả năm; trong đó, doanh nghiệp nhà nước ước đạt 7.890 tỷ đồng, tăng 16,2%; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 4.645 tỷ đồng, tăng 12,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 665,4 tỷ đồng, giảm 4,2% so năm trước([2]).

Hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội; các mặt hàng chính sách phục vụ nhân dân miền núi, vùng cao đảm bảo chất lượng và cung ứng kịp thời. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được duy trì thường xuyên. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2011 ước đạt 11.502,6 tỷ đồng, tăng 23,8% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng khoảng 4,5%); trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 887,2 tỷ đồng (chiếm 7,7%), tăng 21,9%; khu vực doanh nghiệp dân doanh ước đạt 3.366,8 tỷ đồng (chiếm 29,3%), tăng 23,4%; khối cá thể chiếm tỷ trọng cao nhất ước đạt 7.248,6 tỷ đồng (chiếm 63%) tăng 24,3% cùng kỳ([3]). Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2011 tăng 19,26% so với tháng 12/2010 và tăng 21,65% so với cùng kỳ([4]).

Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn có nhiều chủ động trong tìm kiếm, duy trì thị trường đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: may mặc, chè, công cụ, dụng cụ y tế và một số sản phẩm mới nên chỉ tiêu xuất khẩu cả năm 2011 đạt cao và hoàn thành kế hoạch; tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 134,2 triệu USD, tăng 35,7% so với năm 2010 và vượt kế hoạch năm 22%; tổng giá trị nhập khẩu ước đạt 329,6 triệu USD, tăng 9,4% so với cùng kỳ([5])Hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn cơ bản đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất và đi lại của nhân dân, tiếp tục phát huy và nâng cao chất lượng hoạt động của các tuyến xe buýt, taxi... góp phần nâng cao văn minh đô thị và phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân đặc biệt là học sinh, sinh viên; doanh thu vận tải cả năm ước đạt 1.220 tỷ đồng, tăng 21,4% so với cùng kỳ, trong đó vận tải hàng hóa tăng 23%, vận tải hành khách tăng 15,1%, hoạt động dịch vụ vận tải tăng 17%([6]). Hệ thống bưu chính, viễn thông, thông tin truyền thông tiếp tục được đầu tư, nâng cấp và mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thông tin của nhân dân([7]).

- Về chi đầu tư phát triển: chủ động thực hiện tốt các nội dung theo Nghị quyết số 11/NQ-CP, tỉnh đã tổ chức rà soát, bố trí kế hoạch của tỉnh theo đúng quy định của nhà nước và nguyên tắc phân bổ vốn, đã rà soát với 107 dự án đủ điều kiện để khởi công mới. Trên cơ sở đảm bảo cân đối đủ vốn cho các dự án cấp thiết, phát huy hiệu quả trong năm, tỉnh đã cắt giảm 33 dự án khởi công mới, chỉ bố trí cho 74 dự án thực sự cấp bách, số vốn là 259,54 tỷ đồng; trong đó: vốn địa phương cân đối 55 công trình, tổng vốn 191,14 tỷ đồng; vốn hỗ trợ có mục tiêu 14 công trình, tổng vốn 63,2 tỷ đồng; vốn xổ số kiến thiết 6 công trình lớp học với số vốn 5,2 tỷ đồng.Tổ chức thực hiện rà soát lần 2 và cắt giảm 07 công trình khởi công mới với tổng vốn cắt giảm là 20,77 tỷ đồng chuyển sang thực hiện các dự án cấp bách phục vụ Festival trà; trong đó: vốn địa phương cân đối 04 công trình, tổng vốn 11,53 tỷ đồng; vốn thu từ sử dụng đất 02 công trình, tổng vốn 5,24 tỷ đồng; vốn hỗ trợ có mục tiêu 01 công trình, tổng vốn 1 tỷ đồng. Bên cạnh việc rà soát, cắt giảm, giãn tiến độ các công trình, dự án theo kế hoạch năm 2011 thuộc ngân sách cấp tỉnh, UBND cấp huyện và các chủ đầu tư khác thực hiện việc rà soát, cắt giảm, đình hoãn tiến độ các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước theo phân cấp.

Kịp thời triển khai các giải pháp về tập trung hỗ trợ, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; đẩy mạnh xuất khẩu; sớm đưa các dự án công nghiệp trọng điểm đi vào hoạt động. Tạo điều kiệntổ chức làm việc với trên 200 lượt nhà đầu tư, đã chấp thuận 120 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng trên 40.000 tỷ đồng; cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 58 dự án với tổng vốn 26.456,7 tỷ đồng; thành lập mới 324 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 1.700 tỷ đồng và cấp chứng nhận hoạt động cho 128 đơn vị trực thuộc, góp phần tăng thêm năng lực sản xuất, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm thu hút nhiều lao động của địa phương([8]).

Tổng vốn đầu tư từ tất cả các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh thực hiện ước đạt 11,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13% so với năm trước; trong đó, vốn do nhà nước quản lý là 4.779,2 tỷ đồng, tăng 10,2% (có tỷ trọng 41,6% tổng vốn đầu tư), khu vực dân doanh thực hiện đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, tăng 20,7% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 360 tỷ đồng, giảm 37% so với năm 2010. Những tháng đầu năm hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh đạt thấp một phần do chủ trương do cắt giảm đầu tư theo chỉ đạo của Trung ương; sang quý III/2011 do nhiều công trình mới được khởi công và đẩy nhanh tiến độ thi công phục vụ Liên hoan Trà và các dự án đầu tư sản xuất nên tính chung cả năm giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn (theo giá thực tế) ước đạt 5.825 đồng, tăng 25,8% so với năm 2010.

Về hoạt động tài chính: thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng thu ngân sách trên địa bàn, đồng thời cắt giảm chi tiêu công, tăng thu ngân sách theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP tới các đơn vị. Tổng số kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên đạt 55,35 tỷ đồng; trong đó, số kinh phí thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên giảm thêm là 30,35 tỷ đồng; số kinh phí tạm dừng mua xe ô tô, mua sắm tài sản có giá trị lớn, thiết bị văn phòng, giảm quy mô, số lượng lễ hội, hội nghị, hội thảo, sơ kết, tổng kết,… khoảng 25 tỷ đồng.

Ngân hàng nhà nước tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất để tập trung vốn cho vay sản xuất - kinh doanh, khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xây dựng phương án ưu tiên về vốn cho vay phục vụ sản suất - kinh doanh. Đến nay các tổ chức tín dụng trên địa bàn cơ bản đáp ứng các nhu cầu vốn đối với lĩnh vực sản xuất - kinh doanh; việc giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng và dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất cũng đạt kết quả tốt, hiện chưa có đơn vị nào vượt quá 10% tổng dư nợ của đơn vị. Đồng thời không ngừng tăng cường lực lượng thực hiện công tác thanh, kiểm tra trực tiếp các tổ chức tín dụng trên địa bàn theo các quy định. Tổng nguồn vốn trên địa bàn ước đạt 14.000 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ và tăng 4,89% so với 31/12/2010; tổng dự nợ ước đạt 23.000 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ và tăng 18% so với 31/12/2010, trong đó dự nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn đạt 4.600 tỷ đồng với khoảng 105 nghìn khách hàng. Nhìn chung hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn ở trạng thái bình thường, chưa phát sinh hiện tượng tiêu cực trong cạnh tranh tín dụng và lãi suất

Về hoạt động thu - chi ngân sách: tiếp tục phát huy những hiệu quả của các cơ quan chức năng trong quá trình kiểm soát, thực hiện các chính sách của nhà nước về thu - chi ngân sách, tăng cường công tác hậu kiểm sau hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật. Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 3.265 tỷ đồng; trong đó, thu trong cân đối ngân sách ước đạt 2.915 tỷ đồng, tăng 12,6% so với dự toán, thu quản lý qua ngân sách ước đạt 350 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương dự ước 6.151,7 tỷ đồng; trong đó, chi trong cân đối ước đạt 5.135,9 tỷ đồng. Nhìn chung, hoạt động thu - chi ngân sách đạt kết quả khá và đáp ứng tốt các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Về sản xuất nông, lâm nghiệp: giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp thủy sản 2011 tăng 4,34%, trong đó ngành trọt trọt tăng 7,41% do được mùa lúa cả 2 vụ và các cây trồng khác tương đối ổn định và nhìn chung thuận lợi; ngược lại giá trị sản xuất ngành chăn nuôi không tăng mà giảm 1,9%, với nguyên nhân chủ yếu do chăn nuôi gia súc chiếm 2/3 giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi, trong khi sản lượng gia súc năm 2011 bị sụt giảm do dịch bệnh kéo dài 4 tháng đầu năm trên đàn gia súc, làm giảm hơn 1 chu kỳ chăn nuôi... Tính chung cả năm 2011, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 119,3 nghìn ha, tăng 1,66% (+1.948 ha) so với năm 2010. Trong đó, cây lương thực có hạt là 89,8 nghìn ha; cây chất bột có củ 11,2 ha; cây công nghiệp hàng năm 6,26 nghìn ha([9]). Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 2011 đạt 449,55 nghìn tấn, bằng 111,3% kế hoạch và tăng 8,3% (+34,6 nghìn tấn) so với năm 2010.

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2011 (theo giá so sánhước đạt 2.560 tỷ đồng, tăng 4,34% so với năm 2010. Trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp  2.421,3 tỷ đồng, tăng 4,65%; giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp 89,3 tỷ đồng, giảm 3%; giá trị sản xuất ngành thuỷ sản 49,4 tỷ đồng, tăng 3,3% so với năm 2010([10]). Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới như: tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết và thông tin tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng đến các tầng lớp cán bộ, đảng viên; xây dựng Chương trình hành động cụ thể; thành lập Ban Chỉ đạo các cấp, Văn phòng Điều phối chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh; tổ chức được 25 tập huấn cho hơn 1.800 người trong toàn tỉnh về công tác xây dựng nông thôn mới.

Liên hoan trà quốc tế lần thứ nhất - Thái Nguyên, Việt Nam 2011 với 18 hoạt động diễn ra liên tục từ ngày 9/11 đến 15/11 được tổ chức thành công tốt đẹp, đúng nội dung kịch bản và đảm bảo an toàn tuyệt đối, để lại ấn tượng sâu lắng trong lòng người dân, du khách và bạn bè quốc tế. Với hàng triệu lượt người đến với Thái Nguyên để dự và tham gia các hoạt động như: Hội thảo quốc tế về cây chè, công nghiệp sản xuất chè; Lễ hội Văn hóa Trà với cuộc thi “Bàn Tay Vàng”, Búp Chè Vàng”, “Văn hóa Trà Việt Nam”, Hội chợ thương mại Du lịch quốc tế, Chợ quê ẩm thực và sản vật văn hóa dân tộc; thưởng thức các tiết mục nghệ thuật đặc sắc của 10 đoàn nghệ thuật trong nước và quốc tế biểu diễn; không khí vui nhộn, hấp dẫn của Lễ hội đường phố; chứng kiến sự đua tài của các vận động viên đua thuyền, võ thuật, cờ tướng đến từ nhiều vùng miền trong nước; tham quan các danh lam, thắng cảnh, các vùng chè nổi tiếng của tỉnh; thưởng thức những chén trà thơm ngon tại các khu phố ẩm thực trà cùng với những tiết mục diễn xướng dân gian đặc sắc… Đặc biệt, tại Liên hoan đã vinh dự ghi được 3 kỷ lục: Bộ ấm trà lớn nhất Việt Nam; chương trình nghệ thuật pha trà, thưởng trà có số lượng người tham gia đông nhất. Đây là sự kiện lớn của tỉnh và của cả nước, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu trà Việt và tôn vinh các địa phương trồng chè, các nhà khoa học, các doanh nghiệp và đặc biệt là tinh thần vượt khó, cần cù, sáng tạo của hàng triệu nông dân, lao động - những người trực tiếp trồng, chế biến và kinh doanh chè Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

- Công tác quản lý tài nguyên môi trường: tập trung triển khai công tác kiểm kê đất, lập quy hoạch sử dụng đất. Tăng cường thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự ổn định về khai thác, sử dụng, vận chuyển khoáng sản; kịp thời triển khai công tác định giá đất, thẩm định phương án bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn; hướng dẫn, đôn đốc các cơ sở sản xuất thực hiện các biện pháp xử lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, trong đó tổ chức hưởng ứng sự kiện “ngày môi trường thế giới”, thực hiện ký và quản lý sử dụng quỹ bảo vệ môi trường theo quy định; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động tài nguyên, môi trường, chấn chỉnh và xử lý vi phạm để đảm bảo việc chấp hành chính sách, pháp luật về quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường theo quy định; đặc biệt đã tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng đất của các doanh nghiệp có các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh và chấn chỉnh, quản lý xử lý triệt để tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép trên địa bàn tỉnh.

2.2. Về lĩnh vực văn hoá - xã hội

Tổ chức thực hiện tốt các giải pháp về đảm bảo an sinh xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ nên trong lĩnh vực văn hóa xã hội có những chuyển biến tiến bộ, các chỉ tiêu về giáo dục, tạo việc làm, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng... đạt và vượt kế hoạch đề ra.

- Công tác xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình và các chính sách với người có công, gia đình chính sách tiếp tục được tập trung quan tâm, thực hiện thường xuyên, đúng quy định. Các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng khó khăn và các chính sách trợ giúp trực tiếp về sản xuất và đời sống cho dân tộc thiểu số, người nghèo được đẩy mạnh, thực hiện các chương trình mục tiêu kịp thời. Trong năm đã tổ chức 470 lớp dạy nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên cho 13.100 học viên, đạt 106,5% kế hoạch góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 48,2%, trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 26,45%; giải quyết việc làm mới cho hơn 22.000 lao động, trong đó xuất khẩu 1.000 lao động; giảm tỷ lệ hộ nghèo trong năm đạt 2,1%, dự ước đến hết năm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới trên địa bàn còn 18%([11]).

- Các cơ quan thông tin tuyên truyền đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, nhằm tuyên truyền chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương; tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, biểu diễn nghệ thuật, giao lưu văn hóa trà; các hoạt động kỷ niệm, các giải thể thao… được tổ chức trang trọng, phát huy truyền thống văn hoá - lịch sử, lòng tự hào quê hương, dân tộc góp phần nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân rèn luyện thể dục thể thao và đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá; toàn tỉnh có:256.886/286.408 gia đình đăng ký Gia đình văn hóa đạt (90%); 1.812/3.016 xóm, bản, tổ dân phố đăng ký xóm, bản, tổ dân phố văn hóa đạt (60%); 1.305/1.416 cơ quan đăng ký cơ quan văn hóa đạt (92%); có 2.230 nhà văn hoá xóm bản, tổ dân phố. Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh, số người tập luyện thường xuyên đạt trên 24,5% dân số; tổ chức 450 giải thể thao cấp huyện và 895 giải thể thao cấp cơ sở([12])Chất lượng phát thanh, truyền hình tiếp tục được nâng lên, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin và giải trí ngày càng cao của nhân dân trong và ngoài tỉnh.

- Công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế được chỉ đạo thường xuyên, kịp thời tổ chức khám, chữa bệnh đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của nhân dân. Trong các tháng đầu năm, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn xảy ra, các chương trình y tế quốc gia được triển khai theo đúng kế hoạch. Thực hiện hiệu quả, đúng tiến độ chương trình xây dựng hệ thống bệnh viện tuyến huyện, trạm y tế xã trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt chương trình khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi, ước tính tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi toàn tỉnh năm 2011 là 16% bằng 100% kế hoạch([13]). Các ngành chức năng thường xuyên triển khai tuyên truyền, thực hiện công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình đến các cấp cơ sở, nhằm hỗ trợ người dân trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ sinh sản và góp phần thực hiện thành công kế hoạch về dân số đã đề ra.

- Công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục có những chuyển biến tiến bộ. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn được nâng lên; tăng cường công tác bồi dưỡng, ứng dụng công nghệ thông tin, thanh kiểm tra để duy trì nề nếp kỷ cương dạy và học, thực hiện hoàn thành tốt mục tiêu nhiệm vụ năm học; kết quả thi chọn học sinh giỏi Quốc gia năm 2011, tỉnh Thái Nguyên đạt 57 giải (74,02%) cao hơn bình quân chung cả nước (52,60%), tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt93,77%, bổ túc trung học phổ thông đạt 83,15%. Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức khai giảng năm học 2011-2012 với chủ đề “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”tới tất cả các cấp học, bậc học trong toàn tỉnh, phấn đấu tạo chuyển biến mới trong quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. Cơ sở vật chất, trường lớp học được tăng cường. Cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo các địa phương, đơn vị thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, góp phần huy động được nhiều nguồn lực tham gia phát triển giáo dục và từng bước xây dựng xã hội học tập. Chủ động phối hợp với các trường đại học trên địa bàn để tổ chức tốt công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh([14]).

Hoạt động khoa học công nghệ đã bám sát chương trình, kế hoạch và thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về đo lường chất lượng hàng hóa, thanh tra khoa học công nghệ đúng quy định. Tổ chức kiểm tra, nghiệm thu các đề tài đã hoàn thành để phổ biến và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ với nhiều mô hình áp dụng vào một số ngành nghề phục vụ phát triển kinh tế và đời sống...

- Về công tác dân tộc, tôn giáo: Chỉ đạo thực hiện các chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn như: trợ giá, trợ cước, định canh định cư, hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất theo các chính sách mới của Nhà nước; tổ chức thực hiện tốt chương trình 134, 135, ưu tiên đầu tư­­ phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng trực tiếp phục vụ đời sống; khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi tr­­ường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cư­­ờng của đồng bào các dân tộc vươn lên thoát nghèo, sử dụng có hiệu quả nguồn lực hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị trên địa bàn, góp phần xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc([15]). Tăng cường giải quyết các vấn đề về đất xây dựng các cơ sở thờ tự, tôn giáo trên địa bàn và đảm bảo các hoạt động tôn giáo trên địa bàn theo quy định.

2.3. Về lĩnh vực nội chính

Công tác tổ chức: kịp thời tổ chức kiện toàn và thành lập các tổ chức mới theo chỉ đạo của Chính phủ và Ban Thường vụ Tỉnh ủy, thực hiện đúng quy định về công tác quản lý, tổ chức bộ máy, cán bộTổ chức thực hiện tốt cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, xây dựng hệ thống chính quyền đảm bảo chất lượng; trong ngày bầu cử tình hình thời tiết thuận lợi, cử tri nô nức, phấn khởi tham gia bỏ phiếu; công tác bảo vệ an ninh trật tự trước, trong và sau bầu cử được đảm bảo an toàn, tiết kiệm([16]).

- Công tác ngoại vụ: tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo tỉnh giữ mối quan hệ với các địa phương ở nước ngoài đã có ký kết hợp tác đầu tư; quản lý hoạt động đối ngoại, lãnh sự theo quy định; củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa tỉnh và một số nước đạt hiệu quả. Tổ chức triển khai kế hoạch phát triển, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, kinh tế đối ngoại giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 và Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhằm tổ chức thực hiện tốt các công tác về đối ngoại nhà nước, không ngừng phát triển công tác viện trợ, đối ngoại nhân dân phục vụ đảm bảo an sinh xã hội và phát triển kinh tế.

- Công tác thanh tra, phòng chống tham nhũng và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân: thường xuyên triển khai tích cực các quy định của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên tất cả các lĩnh vực; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, kê khai tài sản, thu nhập… được các cấp, các ngành quan tâm triển khai và xác định là trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ. Công tác tiếp dân ở các cơ quan hành chính được duy trì đúng quy định. Các cơ quan chức năng đã tổ chức thanh tra chấp hành chính sách pháp luật trong quản lý sử dụng đất đai, nhà ở, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách và một số vấn đề đột xuất ở địa phương và kịp thời có các giải pháp chấn chỉnh, xử lý các vụ vi phạm([17]).

Công tác Quân sự địa phương: thường xuyên duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nắm tình hình địa bàn, thường xuyên kiểm tra, bổ sung các phương án để chủ động đối phó với các tình huống có thể xảy ra. Tổ chức ra quân huấn luyện, tập huấn cho cán bộ quân thường trực và dân quân tự vệ các cấp; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ chốt các cấp và giáo dục kiến thức quốc phòng cho học sinh, sinh viên của các trường trung học phổ thông, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề theo kế hoạch. Công tác tuyển quân đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng.

Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được duy trì và nhìn chung ổn định. Lực lượng Công an các cấp thực hiện đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ quản lý địa bàn, quản lý đối tượng, xây dựng và thực hiện các phương án đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội... theo quy định. Thực hiện các nghiệp vụ đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội góp phần thành công cho bầu cử đại biểu các cấp và các cuộc làm việc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên địa bàn. Tính chung 10 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn tỉnh xảy ra 133 vụ tai nạn giao thông, làm chết 147 người và bị thương 61 người; so với 10 tháng năm 2010, giảm đồng thời ở cả 3 chỉ tiêu: số vụ tai nạn giảm 36 vụ, số người chết giảm 48 người và số người bị thương giảm 21 người. Ngoài các vụ tai nạn giao thông trên, 10 tháng năm 2011 trên địa bàn xảy ra 404 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 547 người.

3. Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Mặc dù tình hình kinh tế - xã hội trong năm 2011 đạt được nhiều tiến bộ, vẫn còn một số chỉ tiêu chủ yếu chưa đạt kế hoạch đề ra như: giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản và giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng GDP không đạt kế hoạch đề ra; việc chỉ đạo, phối hợp chưa quyết liệt của một số cấp, ngành trên một số lĩnh vực như: tiến độ các dự án, công trình xây dựng cơ bản, thủ tục quy trình thực hiện các dự án, hạ tầng giao thông, các dự án đã cấp phép đầu tư, công tác quản lý và hiệu quả sử dụng đất của một số đơn vị, doanh nghiệp; công tác lập, quản lý quy hoạch chung, quy hoạch xây dựng… vẫn còn lúng túng và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cho một số dự án chưa đáp ứng được yêu cầu, tiến độ; một số chế độ chính sách còn chậm thực hiện; tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội khác và một số bệnh nguy hiểm diễn biến phức tạp.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên trong quản lý, điều hành của các cấp chính quyền trong tỉnh, cùng với những yếu kém nội sinh của nền kinh tế; do khó khăn chung của cả nước đã tác động đến nền kinh tế của tỉnh; các doanh nghiệp của tỉnh ta có tỷ trọng sản xuất vật liệu xây dựng lớn; trong bối cảnh giãn, hoãn, giảm mức đầu tư của nhà nước thì mức độ bị ảnh hưởng của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và xây dựng là rất lớn. Tốc độ tăng trưởng năm 2011 của tỉnh tuy vẫn đạt ở tốc độ tương đối cao song chất lượng tăng trưởng giảm đi nhiều so với các năm trước; hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp lãi ròng giảm mạnh do chi phí trung gian tăng cao... Uỷ ban nhân dân tỉnh đã nghiêm túc đánh giá những kết quả đạt được, những mặt mạnh, tích cực; đồng thời kiểm điểm sâu sắc về những mặt bất cập, hạn chế trong quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, tại các phiên họp thường kỳ, đã đề ra giải pháp khắc phục kịp thời và triển khai tích cực theo chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh nhằm đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, góp phần giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

 


[1] - Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,03%, đóng góp 0,86 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12%, đóng góp 5,38 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,25%, đóng góp 3,12 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung.

[2]Nếu chia theo cấp quản lý, giá trị sản xuất công nghiệp Trung ương quản lý ước đạt 8.453 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ và bằng 93,5% kế hoạch cả năm; công nghiệp địa phương quản lý ước đạt 4.747 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ và bằng 84,5% kế hoạch cả năm

Ngành công nghiệp khai khoáng dự ước đạt 608,9 tỷ đồng, tăng 50,1% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt giá trị sản xuất 11.436,6 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước ước đạt 1.155,2 tỷ đồng, tăng 7,2% so với năm 2010.

[3] Trong đó, ngành thương nghiệp ước thực hiện 10.309,4 tỷ đồng (chiếm 89,6%), tăng 24,6% so với 2010; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 747 tỷ đồng, tăng 17,2% cùng kỳ; hoạt động du lịch lữ hành ước đạt 24 tỷ đồng, tăng 35,4% cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 422 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm trước.

- Trên địa bàn tỉnh có 145 cơ sở lưu trú du lịch đã được thống kê quản lý với tổng số 2.500 phòng trong đó có 850 phòng nghỉ cao cấp; có 03 khách sạn đạt tiêu chuẩn 03 sao, 09 khách sạn đạt tiêu chuẩn 02 sao; 10 doanh nghiệp lữ hành nội địa... Lượng khách du lịch năm 2011 ước đạt 1,3 triệu lượt người; trong đó có khoảng trên 20 nghìn khách quốc tế đến thăm quan, du lịch.

[4] - Trong 11 nhóm hàng hoá và dịch vụ có 10 nhóm tăng. Nhóm tăng lớn nhất là nhóm giáo dục tăng 51,35% (do dịch vụ giáo dục tăng 57,9%; văn phòng phẩm tăng 13,69%); tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 30,86% (trong đó, thực phẩm tăng 36,92%; lương thực tăng 17,98%; ăn uống ngoài gia đình tăng 22,12%). Trong nhóm lương thực, thực phẩm các mặt hàng có mức tăng cao là: gạo tăng tẻ thường tăng 26,94%; gạo tẻ ngon tăng 12,88%; gạo nếp tăng 22,68%; lương thực chế biến tăng 23,77%; thịt lợn tăng 60,24%; thịt bò tăng 21,99%; thịt gia cầm tươi sống tăng 32,83%, thịt chế biến tăng 47,21% v.v...; tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 20,28% (nhà ở tăng 23,12%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 26%; gas và các loại chất đốt khác tăng 20,72%; điện sinh hoạt tăng 16,41%; nước sinh hoạt tăng 11,45%...); các nhóm còn lại có mức tăng từ 5,13% đến 19,55%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,53%.

[5] - Những mặt hàng xuất khẩu ước tính cả năm 2011 giá trị cao là: sản phẩm may 62,9 triệu USD (chiếm 46,9% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 11,7%; nhóm công cụ, dụng cụ 22,6 triệu USD, tăng 27,7% so với cùng kỳ; thị trường xuất khẩu chủ yếu trong năm 2011 là thị trường Bắc Mỹ (chiếm 35,7% tổng giá trị xuất khẩu); tiếp đến là thị trường Đông Á chiếm 16,3%; thị trường Đông Nam Á chiếm 16,7%; Tây Âu chiếm 5,6%...

Các mặt hàng nhập khẩu có giá trị lớn trong năm là: sắt thép 341,2 nghìn tấn (gồm thép phế 258 nghìn tấn, phôi thép 77,5 nghìn tấn và 6 nghìn tấn thép là thép cán thành phẩm) với trị giá 167,5 triệu USD, tăng 1,8% về lượng nhưng tăng 13,2% về giá trị so với năm 2010; máy móc, thiết bị, phụ tùng 81,9 triệu USD, tăng 3,5%; giấy lề các loại 4,3 triệu USD (12,9 nghìn tấn), tăng 30,9% về lượng và 57,6% về giá trị; than điện cực 4 triệu USD (2,7 nghìn tấn) tăng gấp hơn 2 lần về lượng và gấp 2,7 lần về giá trị,...

[6] Vận tải hàng hoáKhối lượng hàng hóa vận chuyển cả năm 2011 ước đạt 17,2 triệu tấn với 644 triệu tấn.km, so với năm 2010 tăng 20,8% về khối lượng vận chuyển và tăng 21,2% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển hành khách: vận chuyển hành khách cả năm 2011 ước đạt 7,3 triệu hành khách với khối lượng luân chuyển là 513,9 triệu hành khách.km.

[7] - Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 05 đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính chuyển phát, 06 đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông và đã phủ sóng di động trên toàn địa bàn tỉnh; có 44 bưu cục, 139 điểm bưu điện văn hoá xã; Mật độ điện thoại đạt 105 máy/100 dân (trong đó mật độ điện thoại cố định là 18,3 máy/100 dân, di động trả sau là 7,2 thuê bao/ 100 dân); mật độ thuê bao Internet băng rộng đạt 3,2 thuê bao/100 dân; tỷ lệ người sử dụng Internet đạt 25% dân số. Phổ cập dịch vụ điện thoại cố định và Internet đến tất cả các xã, 100% số xã có điểm truy nhập dịch vụ điện thoại công cộng, 70% số xã có điểm truy nhập Internet công cộng, 100% số huyện được cung cấp dịch vụ Internet băng rộng.

[8] Đến nay, toàn tỉnh đã và đang quy hoạch đầu tư xây dựng 6 khu công nghiệp tập trung, 28 cụm công nghiệp, với tổng diện tích trên 2.000 ha. 01 dự án tổ hợp Yên Bình với diện tích trên 8.000 ha; hiện tại đang tập trung hoàn thiện quy hoạch chi tiết và huy động các nguồn lực để đầu tư cơ sở hạ tầng.

Các dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh, với số lượng không nhiều và hầu hết đều có quy mô nhỏ. Tổng số dự án FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh tính đến thời điểm 1/11/2011 là 23 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 104,3 triệu USD (tương đương 2.200 tỷ đồng); vốn luỹ kế vốn đầu tư thực hiện là 64,458 triệu USD, chiếm 61,79% tổng vốn đầu tư đăng ký. Riêng năm 2011, chỉ có 01 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư là 2,68 triệu USD, trong đó vốn điều lệ 1 triệu đô la Mỹ, thuộc nhà đầu tư Hàn Quốc với ngành nghề sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, quy mô 1,2 triệu sản phẩm/năm; đã và đang triển khai trên 10 dự án NGOs, với tổng số vốn cam kết tài trợ 150 tỷ đồng; đã có 6 dự án ODA mới, 17 dự án chuyển tiếp đang triển khai thực hiện.

- Tính đến tháng 11/2011, trên địa bàn toàn tỉnh có 3.240 doanh nghiệp, gần 400 Hợp tác xã đang hoạt động sản xuất, kinh doanh.

[9] - Tính riêng cây lúa năm 2011, toàn tỉnh gieo cấy được 71.217 ha, tăng 2,1% (+1.474 ha) so với năm trước và bằng 105,6% kế hoạch; năng suất lúa cả năm ước đạt 51,8 tạ/ha (tăng 3,1 tạ/ha) nên sản lượng lúa cả năm sẽ là 369 nghìn tấn, tăng 8,6% (+29,2 nghìn tấn) so với 2010 và bằng 109,2% kế hoạch. Trong cơ cấu diện tích lúa, lúa lai gieo cấy năm 2011 là 8.483 ha (chiếm 11,9% tổng số), tăng 690 ha so với năm trước nhưng chỉ bằng 84,8% kế hoạch.

Theo kết quả tổng điều tra Nông thôn nông nghiệp và điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/10/2011, đàn lợn toàn tỉnh có 516,6 nghìn con, giảm 10% (tương đương với giảm 60,8 nghìn con) so với thời điểm 1/10/2010, trong đó đàn lợn thịt là 424,4 nghìn con, giảm 12,5% (tương ứng với giảm 60,82 nghìn con); đàn gia cầm 7,8 triệu con, tăng 13,4% (tương ứng với tăng 1 triệu con gia cầm); đàn trâu 73,9 nghìn con, giảm 21% (-19,6 nghìn con); đàn bò 30,82 nghìn con, giảm 12 nghìn con.

[10] - Chỉ tiêu giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản chưa đạt kế hoạch là do: trong ngành trồng trọt, giá trị sản xuất cây lương thực có hạt chiếm 50% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp; chỉ số giá bán sản phẩm nông lâm nghiệp thủy sản của người sản xuất tăng 24,6% so với bình quân chung năm trước nên tuy giá thành sản xuất tăng cao do yếu tố đầu vào nhưng tốc độ tăng giá bán ra vẫn cao hơn, làm cho nguồn thu từ nông nghiệp của người nông dân được cải thiện (chỉ tiêu giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản năm 2011 theo giá thực tế đạt khoảng 10 nghìn tỷ đồng, tăng xấp xỉ 30% so với 2010 gồm yếu tố giá tăng 24,6%; yếu tố lượng tăng 4,34%).Diện tích nuôi trồng thủy sản 2011 là 4.852 ha, tăng 1,42% (+68 ha) so với năm trước; sản lượng thủy sản ước đạt 6,1 nghìn tấn, trong đó sản lượng cá nuôi là 5,8 nghìn tấn, tăng 5,2% sản lượng cùng kỳ.

[11] - Tính đến cuối năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí mới) trên địa bàn toàn tỉnh là 58.971 hộ (chiếm 20,6%) tổng số hộ dân cư trên địa bàn; số hộ cận nghèo là 30.391 hộ (chiếm 10,6%). Như vậy, tỉ lệ số hộ nghèo và cận nghèo chiếm trên 1/3 tổng số hộ dân cư toàn tỉnh. Công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ bằng nhiều giải pháp, hình thức ở hầu hết các địa phương như cho vay vốn ưu đãi tạo việc làm, giải quyết việc làm mới cho người lao động, cho vay vốn sản xuất kinh doanh thông qua các tổ chức đoàn thể, ngân hàng... tính đến 1/11/2011, đã có trên 44 nghìn lượt hộ nghèo được vay vốn khoảng 650 tỷ đồng; có trên 2,3 nghìn người vay 64,3 tỷ đồng giải quyết việc làm và hơn 25 nghìn sinh viên được vay trên 300 tỷ đồng phục vụ học tập...

- Trong đó: 1.350 học viên (42 lớp) là đối tượng chính sách xã hội, 3.300 học viên (110 lớp) là lao động nông thôn theo Chương trình mục tiệu quốc gia về việc làm và 8.450 đối tượng khác (318 lớp) có nhu cầu học nghề thường xuyên. Đến nay, toàn tỉnh có 52 cơ sở dạy nghề: 03 Trường Cao đẳng nghề; 07 trường Trung cấp nghề; 09 trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp có dạy nghề; 13 Trung tâm dạy nghề công lập; 02 cơ sở công lập có hoạt động dạy nghề và 18 Trung tâm dạy nghề, cơ sở dạy nghề tư thục.

[12] - Hiện nay, toàn tỉnh có 856 câu lạc bộ TDTT, 06 Liên đoàn, 03 CLB thể thao cấp tỉnh luôn duy trì hoạt động đều với nhiều hoạt động thiết thực góp phần xây dựng, phát triển phong trào, huy động các nguồn lực xã hội góp phần tích cực phát triển sự nghiệp TDTT; 82/181 xã, phường, thị trấn được công nhận đơn vị tiên tiến về TDTT

- Về tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia: tỉnh Thái Nguyên đạt 194 huy chương (58 HCV, 54HCB, 82 HCĐ); nhất toàn đoàn giải vô địch cúp vật tự do nữ và wushu-tao lu (đội nam đối luyện), nhì toàn đoàn giải vô địch vật dân tộc, wushu-tán thủ, đua thuyền; có 01 HCĐ giải vật tự do cổ điển Châu Á, nhiều VĐV đạt kiện tướng và cấp I, giành 14 cờ thưởng các loại.

[13] Dự ước đến hết năm 2011 trên địa bàn tỉnh có 162 xã đạt chuẩn về y tế. Tính luỹ kế đến hết 31/10/2011, trên địa bàn đã quản lý, theo dõi và phát hiện được 8.128 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 3.721 người đã bị chuyển sang giai đoạn AIDS và có 1.757 người đã tử vong do AIDS. Số mới phát hiện được trong 10 tháng đầu năm 2011 là 487 người nhiễm HIV/AIDS, 174 người chuyển sang giai đoạn AIDS, 90 người tử vong.

[14]- Đẩy mạnh triển khai thực hiện Đề án kiên cố hóa trường lớp và xây nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 (đến nay đã xây dựng được 1.393/2519 phòng học; 13.030/37.416 m2);

- Đề án xây dựng trường chuẩn quốc gia, tính đến 31/10/2011, toàn tỉnh có 363/645 trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó mầm non  96/209 trường; tiểu học  189/225 trường, trung học cơ sở  67/181 trường, trung học phổ thông 6/32 trường).

[15] - Kết quả thực hiện giải ngân theo CT 135 đến ngày 31/10/2011 là: 15.349 tr.đ/18.249,94 tr.đ = 84,1%KH (KH vốn năm 2011 là 18.249,94 tr.đ, trong đó: vốn giao năm 2011 là 15.891,97 tr.đ; vốn kết dư năm 2010 chuyển sang thực hiện năm 2011 là 2.357,97 tr.đ); dự kiến đến hết tháng 11 các huyện sẽ chi trả xong kinh phí hỗ trợ cho học sinh con hộ nghèo năm 2011. Thực hiện Quyết định 1592 của Thủ tướng Chính phủ: 11.193,4 tr.đ/20.092 tr.đ = 55,71%KH vốn (còn 06 CT giao kế hoạch vốn đợt 2: các huyện đang thẩm định và phê duyệt báo cáo KTKT công trình); dự kiến hết năm 2011 các huyện sẽ xây dựng hoàn thành 22CT và bàn giao cho các xã quản lý, sử dụng. Theo Quyết định 102 thực hiện (đến ngày 31/10/2011) là 14.160,5 triệu đồng/14.192,40 triệu đồng = 99,78%KH.

[16] - Cuộc bầu cử thành công tốt đẹp, toàn tỉnh có 1.483 tổ bầu cử đều tổ chức khai mạc theo đúng luật. Kết quả: 7/7 đại biểu trúng cử Đại biểu Quốc hội với 99,72% cử tri tham gia bỏ phiếu; 70/71 đại biểu trúng cử Đại biểu HĐND tỉnh với 99,7% cử tri tham gia bỏ phiếu; 336/336 đại biểu trúng cử Đại biểu HĐND cấp huyện với 99,67% cử tri tham gia bỏ phiếu; 4.678/4.860 đại biểu trúng cử HĐND cấp xã với 99,63% cử tri tham gia bỏ phiếu.

[17] - Trong năm các cơ quan chức năng đã tổ chức 432 cuộc thanh tra, kiểm tra (trong đó: thanh tra hành chính 43 cuộc; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành 389 cuộc). Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện sai phạm 18.135,4 triệu đồng, trong đó: kiến nghị xử lý thu hồi và xử phạt hành chính là 14.375,1 triệu đồng; giảm trừ quyết toán 3.126,3 triệu đồng; đã thu hồi và xử phạt hành chính 13.578,1 triệu đồng. Tổng số vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền 247 vụ việc (đơn tồn năm 2010: 22 đơn; phát sinh năm 2011: 225 đơn); số vụ khiếu nại đã giải quyết 231 vụ việc; số vụ việc khiếu nại đang giải quyết 13 vụ việc; số vụ việc chưa giải quyết 03 vụ việc (đơn mới phát sinh); kết quả số vụ việc đã giải quyết 231/247 vụ việc đạt 93,5%, trong đó vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh là: 43 vụ việc. Tổng số vụ tố cáo thuộc thẩm quyền 99 vụ việc (đơn tồn năm 2010: 08  đơn;  phát sinh  năm 2011: 91 đơn); số vụ tố cáo đã giải quyết 92 vụ việc; số vụ việc tố cáo đang giải quyết 07 vụ. Số vụ việc đã giải quyết  92/97 vụ việc, đạt 94,8 %.

Các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp đã tiếp 3.389 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; có 61 lượt đoàn đông người. Phòng tiếp công dân tỉnh tiếp: 1.124 lượt người. Cấp huyện, sở, ngành tiếp: 2.187 lượt người. Các sở, ngành tiếp: 78 lượt người.

- Về thi hành án dân sự trong năm (từ 1/10/2010 đến 1/10/2011) là: 9.872 việc,giảm 551 việc so với năm 2010; trong đó có 5.759 việc có điều kiện thi hành, các cơ quan chức năng đã tổ chức thực hiện xong 4.975 việc đạt 86,4% so với việc có điều kiện thi hành. Số án tồn đọng chuyển sang năm 2012 tiếp tuc thực hiện là 4.336 việc, với số tiền 73,6 tỷ đồng; trong đó số không có điều kiệnt hi hành là 3.555 việc.

 

Nguồn: thainguyen.gov.vn
Tác giả: Phòng Biên tập - Trị sự

Cơ quan chủ quản: UBND TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Trụ sở: Số 16A, đường Nha Trang, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên Email: portal@thainguyen.gov.vn Điện thoại: 0208.3851149 Fax: 0208.3851149

Trưởng Ban Biên tập: Tạ Văn Lộc, Giám đốc Trung tâm Thông tin tỉnh Thái Nguyên

Ghi rõ nguồn "thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này