Thái Nguyên là tỉnh nằm ở trung tâm của vùng trung du, miền núi phía Bắc, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng; phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lạng Sơn và Bắc Ninh; phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội.
Chiều ngày 20/8/1945, đông đảo quần chúng Nhân dân trong tỉnh đã tham gia cuộc mít tinh lớn tại Sân vận động thị xã Thái Nguyên, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh tư liệu)
Thời Vua Hùng dựng nước, Thái Nguyên thuộc bộ Vũ Định - một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Đời Thục Phán An Dương Vương với nước Âu Lạc, các bộ thời Hùng Vương vẫn được giữ nguyên. Thời thuộc nhà Triệu (179 - 111 tr.CN), Thái Nguyên thuộc về nước Nam Việt. Thời thuộc nhà Hán (111 tr.CN - 220 sau CN), Thái Nguyên thuộc huyện Vũ Định, quận Giao Chỉ. Thời nhà Tiền Lý (544 - 602), qua 3 đời vua: Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Hậu Lý Nam Đế, Thái Nguyên thuộc về nước Vạn Xuân. Thời thuộc Đường (thế kỷ thứ VII - X), Thái Nguyên thuộc vùng đất phía Bắc huyện Bình Đạo, phần đất phía Tây châu Lung và đất huyện Vũ Bình.
Năm 905, cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ giành thắng lợi vẻ vang, đặt cơ sở cho việc phục hồi nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Dưới triều Đinh, Tiền Lê (968 - 1009), nước ta được chia thành 10 đạo. Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra nhà Lý, rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, đổi 10 đạo thời Đinh - Tiền Lê thành các lộ và phủ. Đến đầu đời Lý Nhân Tông, cả nước có 24 phủ - lộ; Thái Nguyên thuộc phủ Phú Lương thuộc đất châu Tây Nông (Tư Nông, sau đổi là Phú Bình), khu vực phía Đông châu Vạn Nhai (sau đổi là Vũ Nhai) và châu Định Biên (sau là Tuyên Hóa, Định Hóa). Đầu thời nhà Trần, phủ Thái Nguyên thuộc về lộ Như Nguyệt Giang; đến năm 1397, phủ Thái Nguyên đổi thành trấn Thái Nguyên, gồm các huyện: Phú Lương, Tư Nông, Vũ Lễ, Động Hỷ, Tuyên Hóa, Đại Từ, Yên Định, Lộng Trạch, Vĩnh Thông, Cảm Hóa và châu Thái Nguyên.
Theo sách “Đồng Khánh dư địa chí”, thuộc thời Minh (từ 1407), trấn Thái Nguyên đổi thành châu Thái Nguyên, gồm 11 huyện gồm: Phú Lương, Tư Nông, Động Hỷ, Vĩnh Thông, Tuyên Hóa, Lộng Thạnh, Đại Từ, An Định, Cảm Hóa và Thái Nguyên; đến năm 1412, đổi thành phủ Thái Nguyên. Năm 1426, phủ Thái Nguyên đổi thành Thái Nguyên thừa ty gồm 3 phủ: Thái Nguyên, Phú Bình và Thông Hóa.
Năm 1428, sau khi đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, nhà Lê sơ thành lập. Lê Thái Tổ chia đất nước thành 5 đạo: Tây Đạo, Đông Đạo, Bắc Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo. Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo. Dưới đạo là trấn, lộ, rồi đến phủ, huyện, châu và cuối cùng là xã. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước, từ 5 đạo được chia nhỏ thành 12 đạo thừa tuyên, Thái Nguyên là một trong 12 đạo thừa tuyên ấy.
Năm 1467, nhà Lê sơ tiến hành điều tra địa hình, địa giới của các thừa tuyên, hoàn thành việc lập bản đồ Quốc gia Đại Việt và năm Quang Thuận thứ 10 (1469), đổi Thái Nguyên thừa tuyên thành Ninh Sóc thừa tuyên, gồm 3 phủ Phú Bình, Thông Hóa và Cao Bằng. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), Ninh Sóc thừa tuyên được đổi thành xứ thừa tuyên (xứ) Thái Nguyên. Năm 1533, xứ Thái Nguyên được đổi thành trấn Thái Nguyên.
Năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677), phủ Cao Bằng được tách khỏi trấn Thái Nguyên để đặt riêng làm trấn Cao Bằng; trấn Thái Nguyên còn 2 phủ là Phú Bình và Thông Hóa.
Thời Gia Long nhà Nguyễn (từ 1802), trấn Thái Nguyên thuộc Bắc Thành. Năm Gia Long thứ 12 (1813) thành trấn Thái Nguyên được chuyển từ xã Bình Kỳ, tổng Thượng Giã, huyện Thiên Phúc, phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc (vùng đất phía Bắc của Sóc Sơn, TP. Hà Nội hiện nay) về xã Đồng Mỗ, tổng Túc Duyên, huyện Đồng Hỷ, phủ Phú Bình, trấn Thái Nguyên (nay thuộc địa phận phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên).
Trong 2 năm (1831 - 1832), Vua Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính địa phương, bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh. Theo đó, cả nước có 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên. Dưới tỉnh là phủ, huyện (miền xuôi), châu (miền núi), tổng và cuối cùng là làng xã. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), lập phủ Tòng Hóa trên cơ sở tách 1 châu, 3 huyện của phủ Phú Bình (châu Định và 3 huyện Văn Lãng, Đại Từ, Phú Lương). Tỉnh Thái Nguyên lúc này gồm 3 phủ, 9 huyện và 2 châu (phủ Phú Bình gồm 5 huyện: Đồng Hỷ, Tư Nông, Phổ Yên, Bình Xuyên, Vũ Nhai; phủ Tòng Hóa gồm 3 huyện: Đại Từ, Văn Lãng, Phú Lương và châu Định Hóa; phủ Thông Hóa gồm huyện Cảm Hóa và châu Bạch Thông).
Dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1890, để dễ bề cai trị và đàn áp các cuộc nổi dậy của Nhân dân ta, chúng tách huyện Bình Xuyên khỏi tỉnh Thái Nguyên, nhập về Vĩnh Yên (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) và thực thi chế độ quân quản, chia nhỏ địa bàn Thái Nguyên nhập vào các tiểu quân khu thuộc các đạo binh:
Phủ Tòng Hóa và phủ Phú Bình nhập với một số địa hạt khác thuộc Lục Nam, Bắc Ninh lập thành Tiểu quân khu Thái Nguyên (một trong 3 tiểu quân khu thuộc Đạo Quan binh I Phả Lại, thành lập ngày 9/9/1891).
Phủ Thông Hóa nhập với Lạng Sơn, Cao Bằng và một phần Tuyên Quang thành Đạo Quan binh II Lạng Sơn.
Như vậy, từ tháng 9/1891, tỉnh Thái Nguyên bị xóa bỏ, phân tán vào các địa bàn khác nhau dưới quyền quản lý của giới quân sự Pháp. Hơn một năm sau, vào các ngày 10 và 15/10/1892, Toàn quyền Đông Dương ký các nghị quyết tái lập tỉnh Thái Nguyên gồm 3 phủ: Phú Bình, Tòng Hóa và Thông Hóa.
Ngày 12/6/1894, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đưa các châu Cảm Hóa và Chợ Rã (mới tách từ châu Bạch Thông) và Tiểu quân khu Cao Bằng thuộc Đạo Quan binh II, đồng thời tổ chức một đơn vị gọi là Tiểu quân khu Cai Kinh, gồm 13 tổng, trong đó có 5 tổng (Bắc Sơn, Nhất Thể, Quỳnh Sơn, Tân Lưu, Vĩnh Yên của châu Vũ Nhai, phủ Phú Bình) tách từ Thái Nguyên sang.
Ngày 11/4/1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở toàn bộ diện tích phủ Thông Hóa của tỉnh Thái Nguyên. Để mở rộng địa giới tỉnh Bắc Kạn, ngày 25/6/1901, chính quyền thực dân cắt tổng Yên Đĩnh khỏi huyện Phú Lương (phủ Tòng Hóa, tỉnh Thái Nguyên) sáp nhập về châu Bạch Thông (Bắc Kạn). Cùng thời gian này, 4 tổng thuộc tỉnh Bắc Giang (nay là Bắc Ninh) được cắt về tỉnh Thái Nguyên gồm: Tổng Hà Châu (gồm 6 làng xã) của huyện Hiệp Hòa, thuộc phủ Bắc Hà cắt về huyện Tư Nông, phủ Phú Bình; các tổng Tiên Thù (gồm 4 làng xã), Tiểu Lễ (gồm 7 phường, xã), Thượng Giã (gồm 6 làng Bắc Sông Công) của huyện Đa Phúc thuộc phủ Bắc Hà được cắt về huyện Phổ Yên, phủ Phú Bình.
Trong những năm 1901 - 1914, việc tách, nhập tại các châu, huyện trong tỉnh diễn ra khá nhiều. Huyện Tư Nông cắt tổng Nghĩa Hương về huyện Phổ Yên; cắt tổng Bảo Nang về huyện Đồng Hỷ. Huyện Phổ Yên cắt phần phía Bắc tổng Thượng Kết về huyện Đại Từ. Huyện Đồng Hỷ cắt 3 tổng Văn Lăng, Lịch Sơn và Thượng Nùng về châu Võ Nhai. Huyện Phú Lương cắt tổng Cù Vân về huyện Đại Từ; cắt tổng Ỷ Na (trừ xã Cải Đan của tổng này cắt về huyện Phổ Yên) về huyện Đồng Hỷ. Châu Định Hóa cắt tổng An Trạch và 2 xã Ôn Thượng Lương và Ôn Lương Hạ của tổng Khuynh Kỳ về huyện Phú Lương. Năm 1913, chính quyền thực dân cắt tổng Nghĩa Tá khỏi châu Định Hóa nhập về châu Chợ Đồn (Bắc Kạn) và cắt 2 xã Phúc Lâm, Tư Lập khỏi tổng Định Biên Thượng, châu Định Hóa để sáp nhập về huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Một góc trung tâm tỉnh Thái Nguyên ngày nay
Ngày 27/2/1933, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập thị xã Thái Nguyên. Đến ngày 23/4/1938, Thống sứ Bắc Kỳ ban hành Nghị định số 2046-1 thành lập thị xã Thái Nguyên.
Thái Nguyên là tỉnh thuộc địa bàn khu giải phóng trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám (1945 - 1954), các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên), cùng các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (tỉnh Tuyên Quang) và Chợ Đồn (Bắc Kạn) trở thành An toàn khu (ATK) Trung ương; trong đó các huyện Định Hóa, Sơn Dương, Yên Sơn và Chợ Đồn là trung tâm ATK - Thủ đô kháng chiến của cả nước.
Ngày 6/6/1956, Hội đồng Chính phủ ban hành nghị quyết thành lập Khu tự trị Việt Bắc, gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang (trừ huyện Yên Bình), Thái Nguyên (trừ huyện Phổ Yên cắt về Vĩnh Phúc, huyện Phú Bình cắt về tỉnh Bắc Giang) và huyện Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang (nhập vào tỉnh Lạng Sơn). Thị xã Thái Nguyên trở thành thủ phủ của Khu tự trị Việt Bắc. Ngày 23/3/1959, Chủ tịch nước ký ban hành Sắc lệnh 020-SL sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.
Ngày 19/10/1962, Hội đồng Chính phủ ký Quyết định số 114/CP về việc thành lập thành phố Thái Nguyên, thị trấn Trại Cau, đồng thời điều chỉnh địa giới hành chính một số xã và huyện trong tỉnh Thái Nguyên. Thành phố Thái Nguyên khi mới thành lập có diện tích tự nhiên gần 100 km2, dân số khoảng 60.000 người.
Thực hiện Nghị quyết số 103/NQ-TVQH ngày 21/4/1965 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, từ ngày 01/7/1965, tỉnh Thái Nguyên hợp nhất với tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, gồm 14 đơn vị hành chính trực thuộc. Ngày 29/12/1978, Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra nghị quyết tách 2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã khỏi tỉnh Bắc Thái, sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng; Bắc Thái còn 11 đơn vị hành chính trực thuộc với diện tích 6.500 km2. Ngày 02/4/1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 102-HĐBT về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, thành phố của tỉnh Bắc Thái. Theo đó, huyện Đồng Hỷ chuyển cho thành phố Thái Nguyên 7 xã gồm: Phúc Hà, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Thịnh Đán, Thịnh Đức, Tân Cương và Tích Lương; giao cho huyện Phổ Yên 2 xã Bình Sơn và Phúc Tân; tiếp nhận từ thành phố Thái Nguyên xã Đồng Bẩm, tiểu khu Chiến Thắng, thị trấn Núi Voi và thị trấn Trại Cau; tiếp nhận từ huyện Võ Nhai 4 xã là Hòa Bình, Tân Long, Quang Sơn và Vân Lăng.
Tại Quyết định số 113/QĐ-HĐBT ngày 11/4/1985 của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã Sông Công được thành lập (trên cơ sở tách thị trấn Mỏ Chè, xã Cải Đan thuộc huyện Phổ Yên và các xã Tân Quang, Bá Xuyên thuộc huyện Đồng Hỷ); địa giới hành chính của thị xã được phân chia gồm 3 phường: Mỏ Chè, Lương Châu, Thắng Lợi và 3 xã: Cải Đan, Tân Quang, Bá Xuyên. .
Thực hiện Nghị quyết ngày 6/11/1996 của Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ ngày 01/01/1997, tỉnh Bắc Thái tách thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.541,1 km2, gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 177 xã, phường, thị trấn.
Ngày 15/5/2015, theo Nghị quyết số 932/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thành phố Sông Công được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Sông Công. Cũng theo nghị quyết này, xã Lương Sơn của thành phố Thái Nguyên được chuyển thành phường Lương Sơn để sáp nhập vào thành phố Sông Công. Thị xã Phổ Yên được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Phổ Yên.
Ngày 18/8/2017, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 442/NQ-UBTVQH về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Theo đó, thị trấn Chùa Hang và 2 xã Linh Sơn, Huống Thượng của huyện Đồng Hỷ; xã Đồng Liên của huyện Phú Bình; xã Sơn Cẩm của huyện Phú Lương được sáp nhập vào thành phố Thái Nguyên. Đồng thời 2 phường Đồng Bẩm và Chùa Hang được thành lập trên cơ sở địa giới hành chính và dân cư xã Đồng Bẩm và thị trấn Chùa Hang.
Thực hiện Nghị quyết số 814/NQ-UBTVQH14, ngày 21/11/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thái Nguyên, từ ngày 01/01/2020, xã Kim Sơn sáp nhập vào xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, thành lập phường Châu Sơn, thành phố Sông Công trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của phường Lương Châu và xã Vinh Sơn.
Ngày 15/02/2022, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 469/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập các phường thuộc thị xã Phổ Yên và thành lập thành phố Phổ Yên. Quyết định có hiệu lực từ ngày 10/4/2022. Như vậy, đến tháng 4/2022, tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính, gồm 3 thành phố và 6 huyện.
Một góc trung tâm phường Bắc Kạn, tỉnh Thái Nguyên
Thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội, từ ngày 01/7/2025, tỉnh Thái Nguyên (mới) trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn; với diện tích 8.375 km2, dân số gần 1,8 triệu người. Cùng với cả nước, tỉnh Thái Nguyên cũng thực hiện nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết thúc hoạt động cấp huyện, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh Thái Nguyên sau sáp nhập có 92 đơn vị hành chính, gồm 77 xã và 15 phường.