Môi chất lạnh tái chế cho hệ thống điều hòa trước áp lực siết hạn ngạch
Nhu cầu làm mát tiếp tục tăng cao nhưng hạn ngạch nhập khẩu môi chất làm lạnh vào Việt Nam sẽ ngày càng bị thắt chặt.

Theo các chuyên gia, việc thu hồi, tái chế và tái sử dụng nguồn môi chất lạnh (gas lạnh) thuộc nhóm HCFC, HFC đang tồn trữ trong các thiết bị làm mát hiện có trở thành giải pháp quan trọng để bù đắp thiếu hụt trong tương lai.

Nguy cơ thiếu hụt hàng nghìn tấn gas lạnh

Là thành viên tích cực của Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, Việt Nam đã thiết lập lộ trình kiên quyết loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn (HCFC) và giảm dần các chất gây hiệu ứng nhà kính (HFC) có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu (GWP) cao.

Thực hiện Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát, từ năm 2025, Việt Nam đã áp dụng hạn ngạch nhập khẩu HCFC 1.300 tấn/năm và sẽ duy trì đến hết năm 2029, tương ứng mức giảm 67,5%.

Giai đoạn từ 2030-2039, hạn ngạch nhập khẩu trung bình chỉ còn 100 tấn/năm và tiến tới loại trừ hoàn toàn HCFC từ năm 2040.

Anh-tin-bai

Dàn nóng điều hòa không khí tại một tòa nhà cao tầng ở Hà Nội. Ảnh: Trung Nguyên.

Với chất HFC, hạn ngạch nhập khẩu giai đoạn 2024-2028 ngưng ở mức cơ sở là 13,9 triệu tấn CO2tđ, sau đó giảm dần và đến 2045, lượng nhập khẩu không vượt 2,8 triệu tấn CO2tđ (tương ứng mức cắt giảm khoảng 80%).

Trái ngược với đà siết chặt của nguồn cung, theo đà phát triển của thị trường lạnh và điều không khí, nhu cầu bảo dưỡng thiết bị cũ vẫn rất cao. Điển hình với dòng môi chất HCFC-22 (R22), năm 2024, nhu cầu ở mức 2.468 tấn - ít hơn so với hạn ngạch nhập khẩu 2.600 tấn. Nhưng sang giai đoạn sau, hạn ngạch chỉ còn 100 tấn/năm từ năm 2030 trở đi, trong khi nhu cầu bảo dưỡng được dự báo vẫn neo ở mức 1.221 tấn. Tình trạng thiếu hụt nhiều khả năng kéo dài trong khoảng hơn 10 năm tới, trước khi công nghệ môi chất lạnh thế hệ mới có thể thương mại hóa.

Kịch bản tương tự cũng đặt ra với nhóm HFC khi nhu cầu dự báo sẽ vượt so với hạn ngạch nhập khẩu khoảng 1,15 triệu tấn CO2tđ từ năm 2029, và đỉnh điểm vượt khoảng 2,21 triệu tấn CO2tđ vào năm 2032.

Tái sinh môi chất tránh phụ thuộc nhập khẩu

Trao đổi tại Tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn” nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn (16/9), PGS.TS. Nguyễn Việt Dũng, Phó Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội nhấn mạnh: Trong bối cảnh nhu cầu làm mát tiếp tục tăng cao nhưng hạn ngạch nhập khẩu các chất HFC ngày càng bị thắt chặt, việc thu hồi và tái sử dụng môi chất lạnh đạt tiêu chuẩn chính là lời giải cho bài toán cân đối nguồn cung mà không làm gia tăng nhập khẩu các chất này.

PGS.TS. Nguyễn Việt Dũng phân tích thêm, kiểm soát vòng đời khép kín còn nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình. Khác với thế hệ cũ, các môi chất lạnh thế hệ mới thường có đặc tính bắt cháy. Nếu để xảy ra rò rỉ trong không gian kín của các tòa nhà hiện đại, nguy cơ mất an toàn cháy nổ sẽ là hiểm họa khôn lường. Do đó, môi chất lạnh phải được giám sát nghiêm ngặt từ khâu nạp ban đầu, kiểm soát rò rỉ khi vận hành, cho đến khi thu hồi, tái chế làm sạch hoặc tiêu hủy an toàn nếu đã biến chất.

Anh-tin-bai

Các chuyên gia trao đổi tại Tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn” nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn (16/9). Ảnh: Phương Linh.

Theo bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Điều phối viên ô-dôn quốc gia, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện nay, việc quản lý vòng đời môi chất lạnh có vẻ khả thi nhất trên lý thuyết, nhưng thực tế triển khai tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn rất sơ khai.

Khung pháp lý hiện hành quy định rõ: Đối với môi chất lạnh khi không còn sử dụng, Nhà nước khuyến khích tối đa việc thu gom, tái sử dụng hoặc tái chế; chỉ trong trường hợp môi chất đã biến chất, không thể làm sạch hay phục hồi mới bắt buộc phải chuyển giao xử lý tiêu hủy an toàn.

Tuy nhiên, nút thắt lớn nhất hiện nay là: Làm thế nào để tổ chức thu gom hiệu quả trong thực tế? Mỗi thiết bị điều hòa, máy lạnh có vòng đời vận hành kéo dài từ 15 đến 20 năm, thậm chí lâu hơn đối với các hệ thống điều hòa trung tâm quy mô lớn. Dữ liệu quản lý về tệp khách hàng mua sắm thiết bị từ 10-15 năm trước gần như không còn lưu vết. Mặt khác, thói quen thanh lý thiết bị cũ hỏng cho lực lượng thu gom phế liệu tự do (ve chai, đồng nát) với giá cao hơn việc giao nộp đúng quy trình khiến chi phí và cơ chế tài chính dành cho việc thu gom chính ngạch chưa đủ sức hấp dẫn.

“Chúng tôi cũng đã nghiên cứu tính toán phương án lồng ghép trách nhiệm này vào cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), gắn trách nhiệm thu hồi và xử lý môi chất lạnh vào các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu thiết bị, hoặc kết cấu sẵn chi phí xử lý cuối vòng đời vào giá bán sản phẩm ban đầu. Tuy nhiên, giải pháp này không hề đơn giản vì liên đới đến rất nhiều chính sách kinh tế- xã hội khác cần được đồng bộ hóa”, bà Cúc chia sẻ.

Anh-tin-bai

Quản lý các chất được kiểm soát (gồm HCFC, HFC) theo vòng đời. Ảnh: DCC.

Một mắt xích quan trọng khác nằm ở lựa chọn cuối cùng của người tiêu dùng. Đứng từ góc độ doanh nghiệp sản xuất, bà Nguyễn Thị Lệ Thanh, Giám đốc Công ty Daikin Air-Conditioning Việt Nam phân tích: “Người tiêu dùng thường có thói quen chỉ ưu tiên khả năng làm mát nhanh và giá mua ban đầu. Tuy nhiên, trên toàn bộ vòng đời sản phẩm kéo dài khoảng 10 năm, hiệu suất năng lượng mới là yếu tố quyết định. Một chiếc điều hòa hiệu suất cao tích hợp Inverter và sử dụng môi chất thế hệ mới như R32 có khả năng tiết kiệm tiền điện vượt xa chi phí chênh lệch đầu tư ban đầu, đồng thời giải quyết trọn vẹn bài toán lợi ích cho cả người dùng, nhà sản xuất và môi trường”.

Các chuyên gia cũng nhận định, không thể để người tiêu dùng hay doanh nghiệp đơn độc tự xoay xở với các giải pháp xanh vốn có chi phí đầu tư ban đầu cao. Để biến môi chất tái chế thành nguồn cung bền vững, PGS.TS. Nguyễn Việt Dũng cho rằng, vai trò kiến tạo của Nhà nước cần được cụ thể hóa bằng các đòn bẩy kinh tế đột phá, như sớm tích hợp các công cụ thị trường như tín chỉ carbon, chứng chỉ giảm phát thải vào lĩnh vực làm mát. Nhà nước cũng cần tính đến việc thành lập hoặc kết nối với các quỹ khí hậu quốc tế nhằm tài trợ chuyển đổi công nghệ cho doanh nghiệp. Đồng thời có cơ chế trợ giá, bù đắp chi phí cho chuỗi logistics thu hồi, tái chế và tiêu hủy an toàn môi chất lạnh cuối vòng đời.

Khi có sự phối hợp liên ngành đồng bộ cùng cơ chế tài chính đủ mạnh, tiềm năng của môi chất lạnh tái chế mới thực sự được phát huy, vừa bảo đảm an ninh vận hành cho thị trường điều hòa, vừa giúp Việt Nam vững vàng trên hành trình giảm phát thải khí nhà kính.

 

Theo Nghị định số 06/2022/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP), quy định bắt buộc thu gom đã áp dụng đối với tổ chức sở hữu thiết bị làm lạnh, điều hòa công suất lớn từ ngày 1/1/2024, và sẽ mở rộng sang các nhà sản xuất, nhập khẩu thiết bị công suất nhỏ từ ngày 1/1/2028 nhằm đồng bộ hóa với cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).

Song song đó, lộ trình kiểm soát 11 nhóm thiết bị theo chỉ số GWP (như trần GWP tối đa 750 cho điều hòa gia dụng đến năm 2029) và tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 76:2023/BTNMT về thu gom, tái chế, công bố hợp quy môi chất lạnh sẽ là "bộ lọc" để ngăn chặn môi chất gây hại cho môi trường lưu hành trên thị trường.


Nongnghiepmoitruong.vn
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Cơ quan chủ quản: UBND TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Trụ sở: Số 88, đường Hùng Vương, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên Email: portal@thainguyen.gov.vn Điện thoại: 0208.3851149 Fax: 0208.3851149

Trưởng Ban Biên tập: Đào Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Thông tin tỉnh Thái Nguyên

Ghi rõ nguồn "thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này