Xuất khẩu tín chỉ các-bon: Xu hướng thị trường các-bon quốc tế
Thị trường các-bon mở đường cho các quốc gia thu hút hàng tỷ USD dòng vốn đầu tư cho công nghệ giảm phát thải, nhưng cũng đòi hỏi rất cao về chất lượng tín chỉ.

Chênh lệch giá các loại tín chỉ các-bon ngày càng xa

Thị trường các-bon là một bộ phận cốt lõi trong hệ thống các công cụ định giá các-bon toàn cầu, nhằm biến nghĩa vụ giảm phát thải thành động lực kinh tế. Dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới cho thấy, năm 2024, thị trường các-bon và thuế các-bon đã bao phủ, định giá trực tiếp cho khoảng 28% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn thế giới, đóng góp trên 100 tỷ USD vào ngân sách của các chính phủ.

Theo ông Axel Michaelowa, Giám đốc điều hành kiêm Nhà sáng lập Tổ chức Perspectives Climate Group, thị trường các-bon thế giới phân định rõ thành hai nhánh. Thị trường tuân thủ (ETS) được thiết lập và quản lý theo các cơ chế giảm phát thải bắt buộc ở cấp quốc gia, khu vực hoặc quốc tế. Thị trường vận hành dựa trên nguyên tắc: cơ quan quản lý nhà nước áp trần phát thải và phân bổ hạn ngạch phát thải bắt buộc lên các cơ sở phát thải lớn. Bên phát thải vượt mức phải mua thêm hạn ngạch, trong khi bên dư thừa hạn ngạch được quyền bán lại để kiếm lợi nhuận.

Anh-tin-bai

Ông Axel Michaelowa, Giám đốc điều hành kiêm Nhà sáng lập Tổ chức Perspectives Climate Group chia sẻ về xu hướng thị trường các-bon quốc tế. Ảnh: Khánh Ly.

Trên thế giới hiện nay, hệ thống thương mại phát thải của Liên minh châu Âu (EU ETS), Anh, Mỹ/Canada đóng vai trò dẫn dắt dòng tiền với khối lượng giao dịch lên tới hàng tỷ tấn CO2 tương đương (CO2tđ). Đáng chú ý, giá hạn ngạch có sự khác biệt lớn giữa các thị trường. Trong khi giá mỗi tấn CO2 hạn ngạch ở Hàn Quốc chưa tới 10 USD, tại New Zealand biến động ở vùng giá trên 30 USD, thì giá hạn ngạch của EU có thời điểm lập đỉnh trên 90 USD và hiện đang dao động ở mức trên 80 USD.

Nguyên nhân chính do EU áp dụng lộ trình cắt giảm trần phát thải khắt khe, và không cho phép bù trừ bằng tín chỉ các-bon. Khi số lượng hạn ngạch lưu hành ngày càng ít đi, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để sở hữu hạn ngạch tăng vọt, đẩy giá lên cao.

Một nhánh khác là thị trường các-bon tự nguyện (VCM) cho phép doanh nghiệp và cá nhân mua tín chỉ các-bon trên cơ sở tự nguyện, không nhằm mục đích tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý về phát thải. Thị trường vận hành theo cơ chế xác định đường cơ sở phát thải, và cấp tín chỉ ghi nhận cho phần phát thải giảm được/hấp thụ được thấp hơn đường cơ sở. Việc phát hành tín chỉ được thực hiện thông qua các bộ tiêu chuẩn quốc tế độc lập như VCS (Verra) hay Gold Standard (GS)...

Ông Axel Michaelowa chia sẻ, tổng giá trị giao dịch trên thị trường tự nguyện khoảng 0,5 tỷ USD mỗi năm, chiếm một phần nhỏ trong thị trường các-bon toàn cầu. Sau một giai đoạn tăng trưởng nhanh, từ năm 2023 đến nay, thị trường có chiều hướng suy giảm.

Anh-tin-bai

Phân biệt đặc điểm thị trường các-bon tuân thủ và thị trường các-bon tự nguyện. Ảnh: PCG.

Điểm nổi bật trong giai đoạn gần đây là sự chênh lệch lớn về mức giá.

Đến đầu năm 2026, giá các loại tín chỉ các-bon chính đã giảm hơn 90%, như nhóm dự án tránh mất rừng/tránh phát thải, tiết kiệm năng lượng chỉ còn khoảng dưới 5 USD/tấn CO₂tđ. Thậm chí, giá tín chỉ từ các dự án năng lượng tái tạo thông thường chỉ còn khoảng 1 USD/tấn CO₂tđ do công nghệ đã bão hòa.

Trái ngược với xu thế này, chỉ các tín chỉ đủ điều kiện đưa vào chương trình bù đắp phát thải hàng không quốc tế (CORSIA) mới ghi nhận sự tăng giá. Đầu năm 2026, giá mỗi tín chỉ CORSIA là 20 USD/tấn CO2tđ. Thực tế phản ánh rõ sự chuyển hướng của dòng vốn quốc tế, ưu tiên tín chỉ chất lượng cao và khả năng trung hòa phát thải thực chất, dài hạn thay vì tìm kiếm tín chỉ giá rẻ.

Thực thi Điều 6 Thỏa thuận Paris

Cũng theo ông Axel Michaelowa, Điều 6 Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu đã tạo nên bước ngoặt tái cấu trúc thị trường các-bon quốc tế. Mục tiêu cốt lõi của Điều 6 là cho phép các quốc gia tự nguyện hợp tác để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), giúp tối ưu chi phí giảm phát thải trên quy mô toàn cầu. Cơ chế trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải, tín chỉ các-bon theo Điều 6.2 và Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris đều có các tiêu chuẩn chặt chẽ để kết quả giảm phát thải mang tính thực chất, ngăn chặn tình trạng tín chỉ "rác", tín chỉ ảo. Thậm chí, cơ chế Điều 6.4 đã trở thành chuẩn mực cao nhất về chất lượng cho thị trường các-bon toàn cầu.

Trên cơ sở này, thị trường hiện nay chia tách ranh giới rõ rệt dựa trên việc tín chỉ carbon có đi kèm điều kiện điều chỉnh tương ứng (CA) hay không. Về bản chất, đó là việc phân định bên nào được ghi nhận thành tích giảm phát thải.

Nếu có điều chỉnh tương ứng, nước bán phải chấp thuận chuyển giao lượng phát thải CO2 giảm được cho nước mua để tính vào NDC của họ, tránh 1 tấn CO2tđ bị đếm hai lần cho cả hai nước. Nếu chuyển giao tín chỉ để thực hiện các mục tiêu giảm phát thải bắt buộc xuyên biên giới (ví dụ các hãng hàng không thực hiện chương trình CORSIA), bên bán phải có văn bản chấp thuận của nước sở tại nơi triển khai dự án.

Trường hợp không có điều chỉnh tương ứng, nước bán vẫn giữ lại trọn vẹn lượng phát thải giảm được để tính vào NDC của mình.

Anh-tin-bai

Việt Nam có nhiều tiềm năng xây dựng dự án tạo tín chỉ các-bon. Ảnh minh họa: Phương Linh.

Theo các chuyên gia quốc tế, cơ chế Điều 6 của Thỏa thuận Paris đang giúp thu hẹp dần khoảng cách giữa hai thị trường bắt buộc và tự nguyện. Nếu không kiên quyết chuyển hướng sang các loại tín chỉ chất lượng cao, dự báo trong dài hạn, thị trường tự nguyện sẽ dần suy yếu và bị hấp thụ khi các thị trường bắt buộc áp dụng chuẩn mực khắt khe của Điều 6.4. Việc Liên minh châu Âu mở cửa chấp thuận sử dụng tín chỉ theo Điều 6 Thỏa thuận Paris để bù trừ hạn ngạch phát thải từ năm 2030 trở đi là minh chứng rõ nét cho xu hướng chuyển dịch này.

Quốc tế kỳ vọng Việt Nam trở thành bên bán tín chỉ chất lượng cao

Để nhanh chóng kết nối với thị trường các-bon toàn cầu, tháng 4/2026, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Đánh giá cao sự chủ động của phía Việt Nam, ông Gilles Dufrasne, chuyên gia Nhóm công tác về Định giá các-bon quốc tế và Thị trường, thuộc Tổng cục Hành động khí hậu của Ủy ban Châu Âu (DG CLIMA) nhận định, quy định mới đã xác định các lĩnh vực ưu tiên tạo tín chỉ trao đổi quốc tế cũng như các quy tắc điều chỉnh tương ứng, tạo nền tảng pháp lý để Việt Nam tham gia hiệu quả vào quá trình thực thi điều 6 Thỏa thuận Paris.

Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay cũng đang trong giai đoạn chuẩn bị và hoàn thiện cơ chế để thực thi Điều 6. Với tư cách bên mua, phía EU rất trông đợi vào những thỏa thuận và giao dịch đầu tiên, cũng như cách thức các tiêu chuẩn chất lượng tín chỉ các-bon và quy trình vận hành thị trường được triển khai trên thực tế.

Cũng dưới góc nhìn của bên mua tiềm năng, ông Fergus McBean, Bí thư thứ nhất phụ trách Khí hậu và Tự nhiên, Đại sứ quán Anh tại Việt Nam chia sẻ: Nguyên tắc cốt lõi là các tín chỉ các-bon phải bảo đảm tính trung thực, có thể đo lường và xác minh rõ ràng về các lợi ích mang lại cho môi trường.

Vấn đề đặt ra không đơn thuần là có bao nhiêu tấn CO2tđ đang được chào bán trên thị trường, mà quan trọng hơn là liệu chúng ta có thể tin tưởng hoàn toàn vào kết quả giảm phát thải của các tín chỉ hay không, và làm thế nào để chứng minh điều đó. "Đây là vấn đề mang tính nền tảng đối với bất kỳ doanh nghiệp, tổ chức nào khi đưa tín chỉ các-bon vào bảng cân đối tài chính của mình", ông Fergus McBean nhấn mạnh và cho rằng, Việt Nam hiện sở hữu rất nhiều tiềm năng phát triển các dự án tạo tín chỉ.

Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động giảm phát thải ở cấp độ địa phương và khu vực, thúc đẩy sự tham gia của khối tư nhân vào các hoạt động tăng trưởng xanh bền vững. Những nỗ lực này cũng cần được thể hiện rõ nét trong phiên bản cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định giai đoạn đến năm 2035 (NDC 3.0) của Việt Nam.

Điều 6 của Thỏa thuận Paris cho phép các quốc gia tự nguyện hợp tác quốc tế để giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện các mục tiêu khí hậu. Điều 6.2 cho phép các nước chuyển nhượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ các-bon qua lại thông qua các thỏa thuận song phương hoặc đa phương. Điều 6.4 thiết lập một cơ chế tập trung dưới sự quản lý của Liên hợp quốc để trao đổi tín chỉ các-bon từ các dự án giảm phát thải. Cơ chế này cho phép cả khu vực công và tư nhân tham gia tạo ra và kinh doanh tín chỉ.

Nongnghiepmoitruong.vn
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Cơ quan chủ quản: UBND TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Trụ sở: Số 88, đường Hùng Vương, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên Email: portal@thainguyen.gov.vn Điện thoại: 0208.3851149 Fax: 0208.3851149

Trưởng Ban Biên tập: Đào Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Thông tin tỉnh Thái Nguyên

Ghi rõ nguồn "thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này