Bước vào năm 2007, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh có nhiều thuận lợi: trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành kinh tế trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần …
Bước vào năm 2007, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh có nhiều thuận lợi: trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành kinh tế trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần … song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thiên tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu vào ở hầu hết các ngành sản xuất đều tăng làm cho chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá thành sản phẩm tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh; kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy đã được cải thiện nhưng vẫn thiếu và xuống cấp; môi trường đầu tư tuy đã được cải thiện nhưng còn thiếu đồng bộ; công tác đền bù giải phóng mặt bằng vẫn còn nhiều khó khăn. Về lĩnh vực xã hội còn nhiều bức xúc, nhất là tệ nạn ma tuý, tai nạn giao thông tuy có nhiều biện pháp nhằm kiềm chế nhưng vẫn chưa có xu hướng giảm… Song với sự chỉ đạo quyết tâm và nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh nên tình hình kinh tế xã hội của tỉnh năm 2007 đã thu được những kết quả đáng kể, kinh tế tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao. Hầu hết các mục tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm 2007 đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn ước đạt 12,46%, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra và là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay.
2. Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 400 nghìn tấn, đạt 100% kế hoạch, tăng 5,16% so với năm 2006.
3. Diện tích chè trồng mới và phục hồi được 765 ha, đạt 127,5% kế hoạch.
4. Diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh đạt 4.088 ha, đạt 104,3% kế hoạch. Trong đó, riêng địa phương trồng đạt 3.556 ha, bằng 104,6% kế hoạch.
5. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) trên địa bàn ước đạt 7.222 tỷ đồng, đạt 102,4% kế hoạch, tăng 23,7% so với năm 2006.
6. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 63,81 triệu USD, đạt 132,9% kế hoạch, tăng 20,3 % so với năm 2006. Trong đó, xuất khẩu địa phương ước đạt 44,58 triệu USD, đạt 141,1% kế hoạch, tăng 52,3 % so với năm 2006.
7. Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 831,9 tỷ đồng, đạt 108,6% kế hoạch đầu năm. Trong đó, thu trong cân đối ước đạt 715,4 tỷ đồng, đạt 109,8% kế hoạch, tăng 9,4% so với năm 2006.
8. Tạo việc làm mới cho 15.000 lao động, đạt 100% kế hoạch.
9. Tỷ lệ sinh thô trên địa bàn ước đạt 14,89%0, giảm 0,21%0 so với năm 2006, đạt mục tiêu kế hoạch.
10. Dự ước tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2007 là 20,69%, giảm 3,05% so với năm 2006, vượt so với kế hoạch năm 2007 là 0,55%.
Sau đây là một số tình hình cụ thể về kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trên địa bàn tỉnh năm 2007:
A. Kinh tế:
I. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2007 (theo giá so sánh 1994) ước đạt 4.716,17 tỷ đồng, tăng 12,46% so với năm 2006. Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp thuỷ sản ước đạt 1.198,27 tỷ đồng, tăng 4,54%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 1.930,26 tỷ đồng, tăng 18,26%; khu vực dịch vụ ước đạt 1.587,63 tỷ đồng, tăng 12,2%; riêng dịch vụ kinh tế ước đạt 901,8 tỷ đồng, tăng 13,8% so với năm 2006. Đây là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ tước tới nay.
Đóng góp vào mức tăng trưởng chung 12,46% thì khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất với mức đóng góp lớn nhất là 7,11%, tiếp đến là khu vực dịch vụ với mức đóng góp 4,11% vào tốc độ tăng chung (riêng nhóm dịch vụ kinh tế có mức đóng góp 2,61%) và cuối cùng là khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có mức đóng góp 1,24%. So với năm 2006, tốc độ tăng trưởng của khu vực Nông lâm nghiệp thuỷ sản và Công nghiệp - Xây dựng năm 2007 cao hơn nên mức đóng góp của 2 khu vực này vào tốc độ tăng chung là cao hơn năm trước. Riêng khu vực dịch vụ, năm 2007 hầu hết các ngành đều có tốc độ tăng tương đương hoặc tăng cao hơn năm 2006, nhưng do thuế nhập khẩu năm 2007 của các đơn vị trên địa bàn thấp (sau khi loại trừ yếu tố giá thì chỉ bằng 82,6% so với năm 2006) nên đã làm giảm tốc độ tăng chung của khu vực dịch vụ từ 13,4% (nếu không gồm thuế nhập khẩu) xuống còn 12,19% (bao gồm cả thuế nhập khẩu).
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất và có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng chung của khu vực này. Năm 2007, sản xuất nông nghiệp mặc dù còn có những khó khăn nhất định như: thời tiết vụ đông xuân không thuận lợi, giá cả vật tư, phân bón và thức ăn chăn nuôi lên cao, dịch bệnh trên đàn gia súc xảy ra ở một số nơi… nhưng do năng suất và sản lượng một số cây trồng, vật nuôi chủ yếu vẫn đạt khá cao nên giá trị tăng thêm (theo giá so sánh 1994) của ngành nông nghiệp năm 2007 vẫn tăng khoảng 4,75% so với năm 2006 (năm 2006 ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng 4,42%).
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, năm 2007, mặc dù có nhiều biến động về giá cả nguyên vật liệu đầu vào nhưng do có sự tăng về năng lực sản xuất của một số ngành công nghiệp mũi nhọn như: điện, thép, kẽm thỏi… đồng thời mức sản xuất của tất cả các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là khu vực ngoài quốc doanh nên tốc độ tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp ước đạt 20,18%, cao hơn +6,8% tốc độ tăng của năm trước.
Trong khu vực dịch vụ, nhóm ngành dịch vụ kinh tế tăng 13,8%, riêng ngành thương nghiệp tăng 16%, vận tải, bưu điện tăng 17,89%; các ngành dịch vụ xã hội tăng 10,15%, trong đó quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng tăng 9,67%, giáo dục và đào tạo tăng 8,96%.
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP bình quân đầu người cũng có sự tăng đáng kể, năm 2007 ước đạt 8,64 triệu đồng/người/năm, tăng 1,52 triệu đồng/người/năm so với năm 2006. Cơ cấu kinh tế trên địa bàn cũng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng nhanh và cao hơn nhiều so với mức bình quân chung; khu vực Dịch vụ tăng xấp xỉ mức bình quân chung toàn tỉnh, trong khi đó khu vực Nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng chậm nên cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực Nông lâm thuỷ sản và tăng tỷ trọng của khu vực Công nghiệp - xây dựng. Tổng sản phẩm trong tỉnh (theo giá thực tế) năm 2007 ước đạt 9.868,7 tỷ đồng. Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 24,25%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,55% và khu vực dịch vụ chiếm cơ cấu 36,20%.
Mặc dù cơ cấu kinh tế chung trên địa bàn toàn tỉnh có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực nhưng nếu xét theo từng ngành thì việc phát huy những năng lực hiện có và khai thác thế mạnh tiềm năng của tỉnh còn chưa tương xứng. Trong sản xuất công nghiệp, các sản phẩm truyền thống và lợi thế của địa phương như sản phẩm thép, chè… mặc dù đã có những đầu tư đáng kể về dây chuyền sản xuất nhưng do giá thành sản xuất còn cao, tính cạnh tranh chưa chiếm ưu thế nên mức tiêu thụ sản phẩm còn gặp khó khăn do vậy sản lượng sản xuất chưa tương xứng với năng lực hiện có. Trong ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch từng bước theo xu hướng từ trồng trọt sang chăn nuôi, tuy nhiên quá trình chuyển dịch diễn ra còn chậm và không ổn định, tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp còn thấp, chưa mang tính kinh doanh, chủ yếu vẫn theo hướng tự phát. Bên cạnh đó, tỷ trọng nông sản qua chế biến công nghiệp trên địa bàn lại rất thấp và tăng rất chậm.
II. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:
Mặc dù sản xuất còn gặp nhiều khó khăn về thời tiết khí hậu, về dịch bệnh gia súc, về giá cả vật tư … nhưng nhìn chung sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2007 vẫn tăng khá so với năm trước. Giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2007 (theo giá so sánh 1994) ước tính tăng 7,8% so với năm 2006, trong đó, nông nghiệp tăng 8,3%; lâm nghiệp tăng 1,1%; thuỷ sản tăng 3,8%. Tuy nhiên do giá cả vật tư đầu vào khá cao nên mặc dù giá trị sản xuất đạt mức tăng khá nhưng tốc độ tăng về giá trị tăng thêm của nhóm ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản chỉ ở mức dưới 5%.
1. Trồng trọt:
a. Cây hàng năm:
- Cây lúa: Nhìn chung năng suất lúa vụ mùa năm nay đạt khá và tăng cao hơn vụ mùa 2006 ở hầu hết các địa phương. Năng suất lúa mùa bình quân toàn tỉnh đạt 47,63 tạ/ha, tăng 1,71 tạ/ha (tương đương với tăng 3,72%) so với vụ mùa năm 2006, trong đó huyện Phổ Yên năng suất ước đạt 49,39 tạ/ha, tăng 1,93 tạ/ha; Phú Bình 47,21 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha; Võ Nhai 45,76 tạ/ha, tăng 1,48 tạ/ha; Đại Từ 51,78 tạ/ha, giảm 0,58 tạ/ha so với vụ mùa năm 2006. Do năng suất thu hoạch tương đối cao, kết hợp với diện tích gieo cấy cả vụ tăng 142 ha nên sản lượng lúa vụ mùa 2007 ước đạt 198,57 nghìn tấn, tăng 7,76 nghìn tấn (tương đương với tăng 4,07%) so với vụ mùa năm 2006.
Tính chung cả năm 2007, toàn tỉnh gieo cấy được 70.224 ha lúa, đạt 101% kế hoạch, tăng 0,11% so với năm 2006. Trong đó, vụ xuân toàn tỉnh gieo cấy được 28.535 ha, đạt 101,9 % kế hoạch và bằng 99,8% vụ xuân 2006; vụ mùa gieo cấy được 41.689 ha, đạt 100,33% kế hoạch, tăng 0,34% so với vụ mùa năm 2006. Mặc dù diện tích gieo cấy tương đương so với năm 2006 nhưng do năng suất lúa vụ xuân năm 2007 chỉ đạt 44,39 tạ/ha, bằng 93,51% so với vụ xuân năm trước, và vụ mùa 2007 năng suất đạt 47,63 tạ/ha, cao hơn 3,72% vụ mùa năm trước nên năng suất lúa toàn tỉnh bình quân cả 2 vụ năm 2007 chỉ đạt khoảng 46,31 tạ/ha, giảm 0,24 tạ/ha và bằng 99,48% so với năng suất lúa cả năm 2006 và đạt 96,71% kế hoạch. Với diện tích và năng suất lúa cả năm như trên, theo tính toán sơ bộ, sản lượng lúa toàn tỉnh ước đạt 325.224 tấn, giảm 1.323 tấn và bằng 99,6% so với cả năm 2006 và bằng 97,66% kế hoạch năm 2007. Trong đó, vụ xuân đạt 126.654 tấn, bằng 93,3% (giảm 9.088 tấn) so với vụ xuân năm trước và bằng 95,13% kế hoạch lúa xuân; vụ mùa ước đạt 198.570 tấn, tăng 7.765 tấn (tương đương với tăng 4,07%) so với vụ mùa năm 2006 và bằng 99,35% kế hoạch lúa mùa.
Các huyện trọng điểm lúa đều đạt năng suất và sản lượng lúa cả năm thấp hơn năm 2006 là: Đại Từ năng suất lúa cả năm đạt 50,24 tạ/ha, sản lượng đạt 62.867 tấn; Phú Bình năng suất lúa cả năm đạt 45,22 tạ/ha, sản lượng đạt 57.750 tấn; Phổ Yên năng suất lúa cả năm đạt 47,39 tạ/ha, sản lượng đạt 47.925 tấn. Riêng các huyện vùng núi cao như Định Hoá, Võ Nhai, Phú Lương và Đồng Hỷ đều có năng suất và sản lượng lúa đều tăng khoảng 3% so với năm 2006.
- Cây ngô: Trong những năm gần đây, cây ngô đã dần trở thành cây màu lương thực hàng hoá có vị trí quan trọng, đáp ứng nhu cầu làm thức ăn cho chăn nuôi. Hiện nay việc áp dụng các giống mới trong sản xuất ngô đã đem lại kết quả đáng khích lệ, diện tích ngô lai được đưa vào sản xuất đại trà và đang thay thế dần các giống ngô cũ năng suất thấp. Phương thức trồng ngô thâm canh cũng đang thay thế dần trồng ngô quảng canh. Chính yếu tố này đã tạo ra sự tăng cao có tính đột biến về sản lượng ngô ở các vùng trọng điểm như: Võ Nhai, Đồng Hỷ và Phú Bình.
Do diện tích gieo trồng ngô trên địa bàn toàn tỉnh cả vụ đông, vụ xuân và vụ mùa đều tăng nên diện tích ngô cả năm tăng khá cao so với năm 2006. Năm 2007 diện tích ngô toàn tỉnh trồng được 17.788 ha, đạt 107,8% kế hoạch, tăng 16,3% so với năm 2006. Trong đó, vụ đông trồng được 8.354 ha, tăng 7,6%; vụ xuân 5.425ha, tăng 19,2%; vụ mùa trồng được 4.010 ha, tăng 1.037 ha (tương đương với tăng 35%) so với cùng vụ năm 2006. Tính chung cả 3 vụ, năng suất ngô cả năm ước đạt 42,12 tạ/ha, bằng 103,72% kế hoạch, tăng 19,6% so với năm 2006. Như vậy, với 2 yếu tố diện tích và năng suất ngô năm nay đều vượt kế hoạch và tăng cao so với năm trước nên đã làm cho sản lượng ngô thu hoạch cả năm nay đạt cao so với năm trước khá nhiều. Sản lượng ngô toàn tỉnh cả năm 2007 ước đạt 74.918 tấn, bằng 111,82% kế hoạch và tăng 38,86% so với năm 2006.
Như vậy, với dự ước sản lượng lúa và ngô như trên thì tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 2007 ước đạt 400 nghìn tấn, bằng 100% kế hoạch và tăng 5,16% so với năm 2006.
- Các cây trồng hàng năm khác: Do có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả kinh tế nên ngoài cây lúa và ngô, các cây trồng hàng năm khác chỉ có cây rau, đậu các loại và cây lạc có diện tích gieo trồng và sản lượng cao hơn năm trước, còn các cây trồng khác đều đạt thấp và giảm so với năm 2006. Tổng diện tích rau toàn tỉnh trồng ước đạt 7.982 ha, đạt sản lượng gần 100 nghìn tấn, tăng 17% so với năm 2006; 4.327 ha lạc và đạt sản lượng 5,6 nghìn tấn, tăng 20,8%; 8.686 ha khoai lang, sản lượng ước đạt 50,2 nghìn tấn, bằng 97,8%; 3.750 ha sắn và sản lượng đạt 37,8 nghìn tấn, bằng 94,8% sản lượng cả năm 2006…
b. Cây lâu năm:
- Cây chè: Năm 2007 kế hoạch trồng mới và cải tạo cây chè toàn tỉnh là 600 ha, trong đó trồng mới là 200 ha và 400 ha trồng phục hồi. Tính đến hết năm 2007, diện tích trồng mới và phục hồi ước đạt 765 ha, đạt 127,5% kế hoạch và tăng 32% so với năm 2006, trong đó diện tích chè trồng mới là 360 ha, bằng 180% kế hoạch, tăng 40% so với năm 2006, với hình thức trồng bằng cành là 230 ha (chiếm 70% diện tích trồng mới), còn lại là trồng bằng hạt 130 ha. Diện tích chè trồng mới năm nay chủ yếu là diện tích trồng cành bằng các giống mới có năng suất cao.
Trong những năm gần đây, tình hình tiêu thụ chè trên thị trường nội địa tương đối thuận lợi, giá cả hợp lý nên đã khuyên khích người trồng chè đầu tư thâm canh tăng năng suất, do vậy năng suất và sản lượng chè trên địa bàn tăng nhanh. Năm 2006, tổng diện tích chè toàn tỉnh là 16.366 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là 14.663 ha và đạt sản lượng 130 nghìn tấn. Năm 2007, tổng diện tích hiện có là 16.726 ha, trong đó, diện tích chè cho sản phẩm là 15.118 ha và sản lượng chè búp tươi đạt 140,18 nghìn tấn, tăng 7,9% so với năm 2006.
- Cây ăn quả: Tổng diện tích cây ăn quả trên địa bàn toàn tỉnh năm 2007 dự ước là 12.882 ha, trong đó diện tích cho sản phẩm là 10.200 ha với các cây ăn quả chủ yếu là vải và nhãn (chiếm tỷ trọng khoảng 70% diện tích), còn lại là các loại cây ăn quả khác với diện tích nhỏ lẻ như: xoài, cam, hồng, na…Về năng suất và sản lượng các loại cây ăn quả nhìn chung đạt khá cao so với năm trước do thời tiết thuận lợi, nhất là đối với cây nhãn và cây vải, do vào thời kỳ ra hoa thụ phấn thời tiết nắng không mưa nên tỷ lệ đậu quả rất cao. Sản lượng nhãn vải cả năm 2007 đạt trên 40 nghìn tấn.
2. Chăn nuôi:
Chăn nuôi gia súc, gia cầm tuy bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nhưng nhờ sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác phòng chống dịch, mặt khác, do giá thịt hơi xuất chuồng từ đầu năm tăng khá cao nên nhìn chung hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn có xu hướng phát triển tốt. Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/8/2007, đàn trâu toàn tỉnh có 108,6 nghìn con, giảm 0,4% (tương đương với giảm 454 con) so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 57 nghìn con, tăng 1,5% (tương đương với tăng 855 con); đàn lợn 509 nghìn con, tăng 2,3% (tương đương với tăng 11,6 nghìn con), trong đó đàn lợn thịt là 419 nghìn con, tăng 3,8% (+15,3 nghìn con); đàn gia cầm 5,1 triệu con, tăng 4,75%.
Sản lượng thịt hơi các loại tăng khá, trong đó thịt trâu và bò hơi xuất chuồng đạt 1.519 tấn, tăng 5,06%; thịt lợn 42,2 nghìn tấn, tăng 4%; thịt gia cầm 6,4 nghìn tấn, tăng 5,5%.
Nhìn chung, trong những năm qua các hộ chăn nuôi đã có sự chuyển đổi dần về hình thức chăn nuôi theo hướng quy mô tập trung và hàng hoá vì vậy chu kỳ chăn nuôi được rút ngắn, quy mô nuôi lớn hơn, trong đó đã có những biện pháp về vệ sinh, bảo đảm an toàn dịch bệnh cho vật nuôi. Tuy nhiên, tính từ đầu năm đến nay, dịch lở mồm long móng đã xảy ra ở 5/9 huyện thành, với 129 con trâu bò và 76 con lợn bị mắc bệnh. Dịch cúm gia cầm luôn có nguy cơ tái phát (trong tháng 8/2007 tại Huyện Phổ Yên dịch cúm tái phát ở 150 con vịt và 35 con gà; tính đến nay không tái phát ổ dịch mới). Trong năm 2007, các địa phương đã hoàn thành công tác tiêm phòng đợt 1, đợt 2 và tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm. Tính đến thời điểm này, đàn gia súc, gia cầm phát triển bình thường và không có bệnh dịch phát sinh.
3. Lâm nghiệp:
Công tác trồng rừng trên địa bàn toàn tỉnh cơ bản đã kết thúc. Do chủ động trong công tác chuẩn bị và thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi nên kết quả đạt khá cao. Năm 2007, diện tích trồng rừng tập trung trên địa bàn toàn tỉnh đạt 4.088 ha, bằng 104,3% kế hoạch, tăng 33,5% so với năm 2006. Trong đó, các đơn vị Trung ương trồng được 532 ha, đạt 116,15% kế hoạch; các đơn vị địa phương trồng được 3.556 ha, đạt 104,6% kế hoạch và tăng 34% so với năm 2006. Trong tổng diện tích trồng rừng tập trung, diện tích trồng rừng kinh tế là 3.195 ha, diện tích trồng rừng phòng hộ là 893ha. Diện tích trồng rừng trên địa bàn tỉnh chủ yếu được trồng theo dự án 661 (chiếm 98.53%).
Ngoài diện tích trồng rừng tập trung, dự án cây luồng đã trồng được 100 nghìn cây luồng (tương đương 50 ha), đạt 100% kế hoạch; dự án trồng cây nhân dân trồng được 2 triệu cây (tương đương 1.000 ha), đạt 100,5% kế hoạch. Công tác chăm sóc rừng trồng và khoanh nuôi tái sinh được trú trọng triển khai đúng kế hoạch. Diện tích rừng trồng 4 năm đầu được chăm sóc là 2.432 ha; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 5.728 ha; diện tích rừng được khoán bảo vệ khoảng 24 nghìn ha.
Sản lượng gỗ khai thác năm 2007 ước đạt 28,9 nghìn m3, tăng 0,75% so với năm 2006, trong đó cơ cấu sản lượng gỗ khai thác chủ yếu từ rừng trồng là chính (chiếm 95,4%), còn lại là từ rừng tự nhiên. Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là gỗ làm nguyên liệu giấy và gỗ làm ván ép.
Do thời tiết không nắng, nóng nhiều và công tác bảo vệ rừng được quan tâm hơn nên diện tích rừng bị thiệt hại năm 2007 giảm và chỉ bằng 70,6% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 21 ha và bị chặt phá tập trung là 0,4 ha.
4. Nuôi trồng thuỷ sản:
Do yếu tố địa hình nên công tác nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn chỉ ở quy mô nhỏ, lẻ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhiều hình thức nuôi trồng mới được áp dụng, quy mô nuôi trồng được mở rộng, đã góp phần làm cho sản lượng thuỷ sản tăng lên. Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh năm 2007 là 4.536 ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 3.840 tấn, tăng 2,7% so với năm 2006.
Hiện nay, một số hộ dân sống ven các vùng hồ có lưu lượng nước lớn như: Núi Cốc, Bảo Linh, Ghềnh Chè… đã được nhà nước hỗ trợ và khuyến khích nuôi cá lồng. Đến nay, toàn tỉnh có 70 lồng cá được nuôi thả, trong đó khối quốc doanh quản lý 28 lồng còn lại là các hộ dân cư quản lý 42 lồng. Bên cạnh đó, mô hình nuôi tôm càng xanh đang được tiếp tục triển khai và mở rộng, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân.
III. Sản xuất công nghiệp:
1. Tình hình thành lập mới doanh nghiệp:
Trong những năm qua, số lượng các doanh nghiệp được thành lập mới và chuyển đổi hình thức sở hữu tăng nhanh. Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2007 trên địa bàn tỉnh có 47 chi nhánh và 307 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và chuyển đổi hình thức sở hữu với số vốn đăng ký 1.968 tỷ đồng. Trong tổng số các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, có 3 hợp tác xã; 116 doanh nghiệp tư nhân (chiếm tỷ trọng 37,8%), 116 công ty trách nhiệm hữu hạn (chiếm 37,8%) và 72 công ty cổ phần (chiếm 24,5%).
Ngoài số doanh nghiệp được thành lập mới, trong năm đã có 418 lượt doanh nghiệp đăng ký bổ sung thêm ngành nghề sản xuất kinh doanh.
Theo kết quả tổng điều tra cơ sở kinh tế thời điểm 1/7/2007, trên địa bàn có 1.166 doanh nghiệp hạch toán độc lập thực tế đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó có 489 doanh nghiệp tư nhân (chiếm tỷ trọng 42%); 478 công ty TNHH và công ty cổ phần (chiếm 41%); 178 tập thể (chiếm 15,2%).
Nhìn chung, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chủ yếu có quy mô nhỏ, số vốn thấp do vậy năng lực cạnh tranh hạn chế. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2006, số lao động bình quân mỗi doanh nghiệp là 54 người (bình quân chung cả nước là 55 người), số vốn sản xuất bình quân mỗi doanh nghiệp là tỷ 12,09 tỷ đồng (bình quân chung cả nước là 22 tỷ đồng). Trong số các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh có tới 85,3% doanh nghiệp có quy mô dưới 50 lao động và chỉ có 14 doanh nghiệp có quy mô từ 500 lao động trở lên (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi); có 77,8% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng và chỉ có 7 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 200 tỷ đồng trở lên.
2. Kết quả sản xuất công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2007 luôn duy trì được nhịp độ tăng cao về giá trị sản xuất do những nhóm ngành công nghiệp quan trọng đều đạt khá cao. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 (bao gồm cả khối công nghiệp quốc phòng) theo giá so sánh 1994 ước đạt 7.222 nghìn tỷ đồng, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước và đạt 102,4% kế hoạch cả năm, trong đó, công nghiệp quốc doanh Trung ương ước đạt 4.154 tỷ đồng, tăng 15% và bằng 106,5% kế hoạch; Công nghiệp địa phương (bao gồm quốc doanh địa phương và khu vực ngoài Nhà nước) ước đạt 2.609 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng cao nhất (39,6%), bằng 96,64% kế hoạch; Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 459 tỷ đồng, tăng 27,9% và bằng 102% kế hoạch đề ra.
Những sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu duy trì được tốc độ tăng từ 25% trở lên so với cả năm 2006 là: Xi măng, than sạch khai thác, thép cán và sản phẩm quần áo may sẵn… Riêng 2 sản phẩm mới là Kẽm thỏi và điện, sản phẩm sản xuất cả năm 2007 đạt khá cao: Kẽm thỏi ước đạt 7.200 tấn, gấp 3 lần sản lượng năm 2006; điện thương phẩm ước đạt 360 triệu KWh. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số sản phẩm sản xuất trong năm đạt tốc độ tăng dưới 10% hoặc giảm so với cùng kỳ là: giấy, bìa các loại; gạch xây; thiếc thỏi và chè các loại…
Nếu xét về tốc độ tăng, khối công nghiệp địa phương quản lý (bao gồm quốc doanh địa phương và ngoài quốc doanh) đạt tốc độ tăng cao nhất; tiếp đến là khối công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thấp hơn cả là khối công nghiệp quốc doanh Trung ương. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tuy nhịp độ tăng trưởng không cao và đang có xu hướng giảm dần cả về tốc độ tăng và tỷ trọng, song hiện tại khu vực này vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (57,7% giá trị sản xuất toàn ngành) và sản xuất phần lớn các sản phẩm quan trọng như: điện; than; xi măng; thép và thiết bị máy móc... Sở dĩ khối doanh nghiệp nhà nước có tỷ trọng giảm là do quá trình chuyển đổi cổ phần hoá doanh nghiệp mà Nhà nước không giữ cổ phần trên 50% nên chuyển sang khu vực ngoài quốc doanh.
Khu vực ngoài quốc doanh hiện tại chiếm 36% giá trị sản xuất toàn ngành và là khu vực có tốc độ tăng cao nhất (ước tính cả năm 2007 tăng 39,8%). Tăng trưởng cao của khu vực ngoài quốc doanh chủ yếu nhờ vào sự tăng về năng lực sản xuất của các đơn vị sẵn có, đồng thời tăng về cả số lượng doanh nghiệp thành lập mới, cổ phần hoá và chuyển đổi hình thức sở hữu. Tuy nhiên nếu so với kế hoạch cả năm 2007 thì khối này không đạt kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu là do 6 tháng cuối năm 2007, các sản phẩm chủ lực và quan trọng như: sản phẩm may, gạch xây, giấy bìa…mức tiêu thụ giảm, kéo theo sản lượng giảm nên đạt tốc độ tăng chậm hơn 6 tháng đầu năm 2007.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sản xuất năm 2007 đạt khá so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 6,3% giá trị sản xuất toàn ngành. Nhìn chung quy mô sản xuất nhỏ, riêng chỉ có công ty liên doanh sản xuất thép xây dựng có mức đầu tư lớn, được trang bị kĩ thuật công nghệ cao nhưng do sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào tình hình tiêu thụ và nguyên liệu đầu vào nên tính ổn định không cao đã làm cho tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng của cả khu vực này ảnh hưởng theo.
Như vậy, sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2007 đạt tốc độ tăng khá cao ở tất cả các khu vực kinh tế và tăng cao hơn mức bình quân chung cả nước (công nghiệp cả nước năm nay tăng khoảng 17%) trong khi có nhiều biến động về giá cả nguyên, nhiên, vật liệu. Mức tăng cao của sản xuất công nghiệp đã góp phần rất lớn vào tốc độ tăng trưởng chung trên địa bàn. Để đạt được tốc độ tăng về giá trị sản xuất công nghiệp khá cao so với năm 2006 như trên một phần là do sự tăng cao sản lượng sản xuất của những sản phẩm chủ lực sẵn có, mặt khác còn do sự tăng về năng lực sản xuất của những dự án được đầu tư và hoàn thành mới đi vào sản xuất. Ước tính cả năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn được bổ sung và tăng thêm (theo giá cố định 1994) khoảng 250 tỷ đồng về giá trị sản xuất của một số sản phẩm mới như: Điện sản xuất của nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn; sản phẩm kẽm thỏi của nhà máy Kẽm điện phân và một số sản phẩm khác của các doanh nghiệp có mức đầu tư nhỏ, lẻ.
IV. Xây dựng cơ bản:
1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản (nguồn vốn tập trung do Nhà nước quản lý):
Mặc dù tiến độ thi công một số công trình trọng điểm những tháng cuối năm đạt rất thấp, nhưng do những tháng đầu năm nay tiến độ thi công thực hiện khá nhanh nên tính chung cả năm 2007 vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn vẫn đạt tốc độ tăng khá, nhất là khu vực do Trung ương quản lý. Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn do Nhà nước quản lý năm 2007 ước đạt 3.722,8 tỷ đồng, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn do Trung ương quản lý ước đạt 2.431,3 tỷ đồng (vốn ngân sách 41,3 tỷ đồng, vốn vay 2.305,6 tỷ đồng, vốn tự có của doanh nghiệp Nhà nước 84,4 tỷ đồng), tăng 58% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng từ nguồn vốn vay (gấp 2 lần so với 2006); vốn do địa phương quản lý ước đạt 1.291,5 tỷ đồng, so với năm 2006 tăng 3,71% (vốn ngân sách 1.021,7 tỷ đồng, tăng 29%; vốn vay 151 tỷ đồng, bằng 51,4% so với cùng kỳ, vốn tự có của doanh nghiệp Nhà nước 2,3 tỷ đồng, vốn khác 116,5 tỷ đồng).
Vào thời điểm hiện nay các dự án, công trình trọng điểm tiến độ triển khai rất chậm như: Dự án đường Quốc Lộ 3 tránh thành phố Thái Nguyên, mặc dù khối lượng công việc đã đạt 85% giá trị công trình và đã thông xe tuyến chính nhưng khả năng đến cuối năm 2007 cũng chỉ đạt khoảng 92% giá trị công trình do hạng mục nhánh giao của tuyến tránh hiện vẫn chưa có mặt bằng để thi công; Dự án Nhà máy xi măng Thái Nguyên, 6 tháng đầu năm thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị khẩn trương, bước sang Quý III và quý IV/2007 tiến độ thi công của dự án rất chậm, một phần do yếu tố thời tiết, phần khác là do khâu thiết kế, thẩm định và chuyển giao thiết bị chậm nên dự án chủ yếu thi công một số hạng mục xây dựng. Với tiến độ như hiện nay dự án rất khó hoàn thành theo đúng kế hoạch.
Một số dự án mới do Trung ương quản lý có mức đầu tư tương đối lớn như: dự án cải tạo Gang Thép giai đoạn 2 và dự án đường quốc lộ 3 mới, đến nay đang trong giai đoạn thiết kế, quy hoạch và lập phương án tổng thể, khả năng đến đầu năm 2008 mới tiến hành thi công và đẩy nhanh tiến độ đầu tư.
Ngoài những dự án đang được triển khai thi công thì hiện nay, trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình dự án trọng điểm đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt và quyết định đầu tư (ước tính vốn được phê duyệt và quyết định đầu tư khoảng 6.000 tỷ đồng) nhưng thực tế chưa được thực hiện hoặc triển khai chậm. Để những dự án trọng điểm trên được khởi công và đưa vào sử dụng trong thực tế, góp phần thay đổi, tạo ra những đột phá mới về hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở của tỉnh đồng thời góp phần nhanh chóng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phuơng thì công tác giải phóng mặt bằng theo đúng kế hoạch là điểm nhấn quan trọng trong việc thực hiện và triển khai dự án.
2. Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài:
Năm 2007, tỉnh Thái Nguyên đã thu hút và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 5 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 111,675 triệu USD. Trong đó, có 1 dự án đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ vui chơi giải trí, với vốn đầu tư đăng ký là 375 nghìn USD và 2 dự án đầu tư vào lĩnh vực bất động sản với vốn đăng ký là 100 triệu USD; 12 dự án phi chính phủ, với tổng số vốn cam kết tài trợ 42,9 tỷ đồng; thu hút 118,7 tỷ đồng vốn ODA.
Trong số các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài mới được cấp phép từ đầu năm đến nay thì 2 dự án “Xây dựng chuyển giao phát triển hồ điều hoà Xương Rồng và Khu đô thị mới hồ điều hoà Xương Rồng” có vốn đăng ký đứng lớn nhất với 100 triệu USD do công ty TNHH Intra Việt Nam làm chủ đầu tư. Dự án đã được khởi công vào đầu tháng 8/2007 và dự kiến được triển khai theo 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu của dự án được triển khai trong hai năm 2007 đến 2008, với việc giải phóng mặt bằng; giai đoạn hai, từ năm 2008 đến 2010, tập trung xây dựng khu đô thị và hồ điều hòa với nhiều hạng mục như: Khu biệt thự, căn hộ cao tầng, nhà văn phòng, trung tâm thương mại và hồ điều hòa gồm khu công viên, sân khấu ca nhạc, câu lạc bộ thể thao, khách sạn… sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội và môi trường cho thành phố Thái Nguyên. Hiện nay, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đang được tiến hành nhưng tiến độ rất chậm. Nhìn chung, đây là dự án lớn, diện tích bồi thường, giải phóng mặt bằng tương đối rộng, liên quan đến các đơn vị tổ chức và nhiều hộ dân cư nên gặp nhiều khó khăn.
3. Giá trị sản xuất xây lắp:
Giá trị sản xuất xây lắp của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh (bao gồm cả loại hình xây dựng cá thể, hộ gia đình) cả năm 2007 ước đạt 1.420 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 551 tỷ đồng, tăng 14,8% và loại hình xây dựng khác ước đạt 856 tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước.
Mặc dù cả năm 2007 tổng vốn đầu tư do nhà nước quản lý thực hiện trên địa bàn khá cao, nhưng khối lượng xây lắp thực hiện chủ yếu vẫn do các đơn vị tỉnh khác thực hiện, nhất là các công trình có quy mô lớn, các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn nhìn chung quy mô nhỏ, hạn chế về năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh nên chỉ trúng thầu những công trình nhỏ.
V. Vận tải:
Do nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá, nguyên, vật liệu cho sản xuất kinh doanh tăng nên hoạt động vận tải trên địa bàn khá sôi động. Tuy nhiên do tính chất thị trường nên giữa các khu vực, các doanh nghiệp tình hình hoạt động rất khác nhau, trong khi hoạt động vận tải khu vực ngoài nhà nước đạt mức tăng khá cao thì hoạt động vận tải (cả vận chuyển khách và vận chuyển hàng hoá) của khu vực nhà nước tăng không đáng kể so với thực hiện cùng kỳ năm trước.
Vận tải hành khách: Vận chuyển hành khách cả năm 2007 ước đạt 3.547 nghìn lượt hành khách và 310,7 triệu lượt hành khách.km. So với cả năm 2006 tăng 12,5% về lượt khách và tăng 10,4% về lượt khách.km. Trong đó, các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu hoạt động vận chuyển hành khách đi những tỉnh xa, có cung đường vận tải dài, uớc tính cả năm 2007, các doanh nghiệp nhà nước vận chuyển được 764,5 nghìn lượt khách, tăng 3,1% và 140,3 triệu lượt khách.km, tăng 3,7% so với cùng kỳ; Các đơn vị vận tải ngoài nhà nước vận chuyển ước đạt 2.782,5 triệu lượt khách, tăng 15,4% và 170,4 triệu lượt hành khách.km, tăng 16,6% so với cùng kỳ.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 3 tuyến xe buýt đang hoạt động, trong thời gian tới sẽ mở rộng thêm 3 tuyến mới. Đây là loại hình dịch vụ mới, góp phần giảm bớt lượng người và xe lưu thông, hạn chế tại nạn giao thông, bước đầu phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong đó có đối tượng là học sinh, sinh viên, cán bộ, công nhân viên chức trên địa bàn. Tuy nhiên do chưa có điểm dừng và đỗ xe trên các tuyến đường và lịch trình các tuyến nên việc dừng đỗ xe để đón và trả khách của loại dịch vụ này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc lưu thông và rất dễ gây tai nạn cho các phương tiện khác cùng tham gia lưu thông. Từ nay đến cuối năm 2007 sẽ triển khai thi công dự án đầu tư xây dựng biển báo, nhà chờ, bãi dừng, đỗ xe buýt khoảng 700 triệu đồng, sẽ góp phần hạn chế những tồn tại nêu trên.
Vận chuyển hàng hoá: Vận chuyển hàng hoá năm 2007 ước đạt 10.090 nghìn tấn và 298,7 triệu tấn.km, so với năm 2006, tăng 14,2% về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển. Trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm khoảng 10% về khối lượng vận chuyển hàng hoá trên địa bàn (tăng 7% so cùng kỳ), còn lại phần lớn là do khối ngoài quốc doanh đảm nhiệm (đạt mức tăng 15%).
Doanh thu vận tải năm 2007 ước đạt 463 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu từ vận tải hàng hoá ước đạt 375,5 tỷ đồng, tăng 14,5%; doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 79 tỷ đồng, tăng 15%.
VI. Thương mại:
1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ:
Bên cạnh sự tăng nhanh về nhu cầu và mức tiêu dùng xã hội thì yếu tố tăng về giá hàng hoá và dịch vụ vụ tiêu dùng cũng làm cho tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm nay tăng khá cao, bên cạnh đó cơ cấu bán lẻ giữa các khu vực kinh tế cũng có sự dịch chuyển dần theo hướng giảm tỷ trọng bán lẻ trong khối doanh nghiệp nhà nước và cá thể sang khối doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2007 ước đạt 4.790 tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 466 tỷ đồng (chiếm 9,7%), tăng 20% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước ước đạt 4.324 tỷ đồng (chiếm 91,3%), tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước (khối doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng 26,45% trong tổng mức bán lẻ, tăng 22,2%; khối cá thể chiếm tỷ trọng 63,8%, tăng 19,6% so với cùng kỳ).
Trong các ngành hoạt động, tổng mức bán lẻ ngành thương nghiệp năm 2007 ước đạt 4.206 tỷ đồng (chiếm 87,8%), tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước; ngành khách sạn nhà hàng và du lịch ước đạt 420 tỷ đồng (chiếm 8,7%), tăng 21% so với cùng kỳ năm trước, còn lại là doanh thu dịch vụ khác chiếm tỷ trọng rất thấp là 3,5%.
2. Xuất, nhập khẩu:
- Xuất khẩu: Mặc dù tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp trung ương và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không ổn định, đạt thấp so với cùng kỳ nhưng các doanh nghiệp do địa phương quản lý xuất khẩu tương đối ổn định và tăng cao, mặt khác do giá xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng nên hoạt động xuất khẩu trên địa bàn năm 2007 đạt tốc độ tăng khá cao so với cùng kỳ và vượt mức kế hoạch đề ra. Dự ước cả năm 2007 giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt 63,8 triệu USD, tăng 20,3% so với năm trước, đạt 133% kế hoạch cả năm. Trong đó, khu vực địa phương xuất khẩu ước đạt 44,6 triệu USD, tăng 52,3% so với năm 2006 và đạt 141,1% kế hoạch; khối quốc doanh Trung ương và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu ước đạt 19,2 triệu USD, bằng 80,8% so với năm trước và đạt 117% kế hoạch.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu năm 2007 vẫn là hàng may mặc, chè, thép và nhóm kim loại màu... Xuất khẩu của mặt hàng chủ lực là hàng may mặc (chiếm 36,4% tổng kim ngạch xuất khẩu) vẫn duy trì được mức tăng cao (trên 60%) về trị giá xuất khẩu. Bên cạnh đó, nhóm sản phẩm kim loại màu như: Thiếc thỏi, gang và quặng ti tan, kẽm thỏi xuất khẩu năm 2007 ước đạt 10,2 triệu USD, gấp 2,2 lần trị giá xuất khẩu năm 2006; mặt hàng thép cán xuất khẩu đạt 18,4 nghìn tấn, so với cùng kỳ tăng 25,4% về lượng và tăng 63,2% về giá trị; dụng cụ y tế, thú y và dụng cụ cầm tay ước đạt 7,9 triệu USD, tăng 51,4%. Tuy nhiên, cũng có những mặt hàng xuất khẩu đạt thấp hoặc giảm về khối lượng và trị giá xuất khẩu là: giấy đế, chè các loại hoặc một số quặng nguyên liệu nhóm kim loại màu.
Nhìn chung các đơn vị xuất khẩu hàng hoá đóng trên địa bàn có quy mô xuất khẩu còn rất nhỏ, lẻ. Trong tổng số 40 doanh nghiệp có tham gia xuất khẩu năm 2007 thì chỉ có 3 doanh nghiệp đạt trị giá xuất khẩu cả năm từ 5 triệu USD trở lên còn lại hầu hết chỉ đạt trị giá xuất khẩu dưới 3 triệu USD.
- Nhập khẩu: Mặc dù mức nhập khẩu của nhóm phụ liệu hàng may mặc phục vụ sản xuất vẫn ở mức cao nhưng do lượng phôi thép nhập khẩu 6 tháng cuối năm của khối ngoài quốc doanh đạt rất thấp nên tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn chỉ ở mức xấp xỉ so với cùng kỳ.
Giá trị nhập khẩu trên địa bàn năm 2007 ước đạt 172,36 triệu USD, bằng 99,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 82,6 triệu USD, tăng 23,7% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 22,1 triệu USD, tăng 43,1% cùng kỳ; khối doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 67,6 triệu USD, bằng 74% so với cùng kỳ.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trên địa năm 2007 là: phụ liệu hàng may mặc 18,2 triệu USD, tăng 90,6%; phôi thép 204 nghìn tấn với trị giá 99,5 triệu USD, chỉ bằng 60,1% về lượng và bằng 76,8% về giá trị so với cùng kỳ; nhóm thiết bị, phụ tùng ước đạt 3,7 triệu USD, bằng 77,2% trị giá nhập khẩu cùng kỳ.
3. Giá cả:
Cùng với việc điều chỉnh tăng giá xăng dầu trong tháng đã tác động làm cho chỉ số giá hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ tháng 12/2007 đạt mức tăng cao so với tháng trước. Chỉ số giá chung về hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2007 tăng 2,22% so với tháng trước và là tháng có chỉ số giá tăng cao nhất tính từ đầu năm đến nay. Trong đó, nhóm Giao thông đạt mức tăng cao nhất (4,53%) và tăng chủ yếu ở mặt hàng xăng dầu các loại (tăng 12,21%); tiếp theo là nhóm đồ uống và thuốc lá (tăng 3,51%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 3,01% (lương thực tăng 3,54%; thực phẩm tăng 3,15%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,14% (trong đó nhóm vật liệu xây dựng tăng 3,55%), còn 5/10 nhóm hàng còn lại đạt mức tăng từ 0,5 đến 1,5%. Riêng nhóm giáo dục có chỉ số giá tương đương tháng trước và nhóm bưu chính viễn thông giảm, bằng 99,02% so với tháng trước.
So với tháng 12/2006, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2007 tăng 12,2%. Những nhóm tăng giá cao nhất tập trung ở các nhóm hàng nhạy cảm và có sức mua tương đối lớn là: lương thực, thực phẩm; thuốc và dụng cụ y tế; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng và nhóm hàng nữ trang. Nhìn chung, các nhóm hàng hoá trên nguồn cung trên thị trường tương đối dồi dào, nhưng do xu hướng tăng giá chung trên thị trường trong nước và thế giới và đặc biệt là liên quan đến yếu tố vĩ mô về lạm phát, lưu thông tiền tệ nên đã đẩy giá cả một số nhóm hàng thời gian qua tăng lên khá cao.
So với tháng 12/2006 nhóm hàng lương thực và thực phẩm có chỉ số giá cao nhất là 21,07% (lương thực tăng 26,41%, thực phẩm tăng 21,02%). Do chỉ số giá của nhóm hàng lương thực và thực phẩm tăng cao, một mặt nó làm cho chỉ số giá chung trên địa bàn tăng cao, mặt khác nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư, vì đây là những nhóm hàng phải tiêu dùng hàng ngày. Nguyên nhân chủ yếu làm cho chỉ số giá của nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng cao là do giá vật tư đầu vào như: phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn giá súc tăng cao. So với tháng 12/2006, giá phân bón tăng trên 30% và thức ăn gia súc tăng khoảng 28%. Do giá vật tư đầu vào tăng cao nên mặc dù giá lương thực và thực phẩm tăng cao nhưng người nông dân vẫn không được hưởng lợi đáng kể.
Giá vàng trên thị trường vẫn diễn biến phức tạp và biến động tăng giảm theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 12/2007 tăng 3,23% so với tháng trước và tăng 27,52% so với cùng kỳ năm trước.
Ngược với xu hướng tăng giá của vàng thì giá đô la Mỹ ổn định và giảm nhẹ. Chỉ số giá USD tháng 12/2007 so với tháng trước bằng 99,81% và so với tháng 12/2006 bằng 99,67%.
VII. Tài chính - Ngân hàng:
1. Thu, chi ngân sách:
- Thu ngân sách: Năm 2007, thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 831,94 tỷ đồng, đạt 108,6% so với dự toán đầu năm; 102,24% dự toán điều chỉnh và chỉ bằng 98,9% so với năm 2006. Trong đó, thu trong cân đối ước đạt 715,44 tỷ đồng (thu nội địa 668,94 tỷ đồng, thuế xuất nhập khẩu 46,5 tỷ đồng), đạt 109,8% dự toán đầu năm và bằng 102,62% dự toán điều chỉnh; tăng 9,4% so với năm trước; thu quản lý qua quỹ ngân sách ước đạt 116,5 tỷ đồng, bằng 101,6 dự toán đầu năm chỉ bằng 62,2% so với cùng kỳ.
Về các nguồn thu, đa số các nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh đều đạt mức tăng từ 20% trở lên so với cùng kỳ năm trước là: thu thuế ngoài quốc doanh ước đạt 152,6 tỷ đồng, tăng 23,3%; thu từ xí nghiệp quốc doanh trung ương 160,5 tỷ đồng, tăng 24,4%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 24,5 tỷ đồng, tăng 121%; thuế thu nhập ước đạt 12 tỷ đồng, tăng 81,7% … Bên cạnh đó còn nhiều nguồn thu đạt ở mức chưa cao và thấp hơn nhiều so với năm trước là: Thu cấp quyền sử dụng đất (bằng 66,2%), thu khác ngân sách (bằng 73,4%) và thu quản lý qua ngân sách, bằng 62,2% so với năm 2006.
- Chi ngân sách: Hoạt động chi ngân sách trên địa bàn đã cơ bản đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tổng chi ngân sách địa phương năm 2007 ước đạt 2.401,1 tỷ đồng, bằng 121,9% dự toán đầu năm và bằng 100,55% dự toán điều chỉnh, tăng 21% so với năm trước. Trong đó, chi trong cân đối ước đạt 1.814,7 tỷ đồng, bằng 100,7% dự toán điều chỉnh, tăng 21,5% so với năm 2006; chi chương trình mục tiêu quốc gia ước đạt 470 tỷ đồng, bằng 100% dự toán điều chỉnh và tăng 48,9% so với năm 2006.
Về các mục chi trong cân đối: chi đầu tư phát triển ước đạt 344 tỷ đồng, tăng 25%; chi thường xuyên ước đạt 1.373 tỷ đồng, tăng 33,3% so với cả năm 2006. Trong chi thường xuyên, chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo ước đạt 631 tỷ đồng, tăng 38,8% và chiếm tỷ trọng cao nhất (46%), chi quản lý hành chính ước đạt 313 tỷ đồng, tăng 32%; Chi trợ giá các mặt hàng chính sách ước đạt 9,4 tỷ đồng, gấp 3,3 lần so với năm 2006.
2. Ngân hàng:
Tổng nguồn vốn tín dụng phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế toàn địa bàn năm 2007 ước đạt 6.550 tỷ đồng tăng 22,4% so với năm 2006, trong đó nguồn vốn do các ngân hàng huy động từ nền kinh tế và dân cư ước đạt 4.690 tỷ đồng, tăng 14,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế và dân cư, tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng chiếm trên 55%, còn lại là tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm 45%.
Mặc dù mức huy động vốn trên địa bàn năm nay đạt khá nhưng do nhu cầu đầu tư cho sản xuất, kinh doanh tăng cao nên hiện tại mức huy động tại chỗ mới đáp ứng được 79,88% mức dư nợ tín dụng.
Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên địa bàn năm 2007 ước đạt 8.200 tỷ đồng, tăng 23,6% so với năm 2006. Trong đó, dư nợ cho vay trung hạn và dài hạn ước đạt 4.800 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 58,53%), tăng 21,95% và dư nợ cho vay ngắn hạn là 3.400 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 41,47%), tăng 21,25% so với năm 2006.
Cơ cấu dư nợ: Trong tổng số dư nợ của các ngân hàng trên địa bàn, dư nợ cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh năm 2007 ước đạt 4.674 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 57% tổng dư nợ; Cho vay vốn hỗ trợ doanh nghiệp và các đối tượng chính sách ước đạt 3.090 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 37,68%).
Về chất luợng tín dụng: Nợ xấu tính đến cuối năm 2007 khoảng 200 tỷ đồng, chiếm 2,44% tổng dư nợ và nợ tồn đọng chờ xử lý là 500 triệu đồng.
B. Một số vấn đề xã hội:
1. Đời sống dân cư và tình hình xoá đói giảm nghèo
Do sản xuất, kinh doanh năm 2007 phát triển với tốc độ khá nên mức sống dân cư ở cả thành thị và nông thôn tiếp tục được cải thiện. Tình trạng thiếu đói giáp hạt trên địa bàn không xảy ra. Thu nhập của người lao động trong khu vực phi nông nghiệp đạt bình quân ở mức trên 1,2 triệu đồng/tháng và có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm ngành. Ngành sản xuất máy móc thiết bị có mức thu nhập bình quân cao nhất là 2,5 triệu đồng, tiếp đến là nhà sản xuất kim loại 2,3 triệu đồng, ngành sản xuất, phân phối điện, nước 2,1 triệu đồng... trong khu vực nông nghiệp, do giá lương thực thực phẩm tăng cao và sản xuất tương đối ổn định nên đời sống đa số nông dân có những cải thiện hơn so với năm trước nhưng thu nhập trong khu vực này vẫn đạt thấp nhất. Tuy nhiên, do giá cả hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ liên tục tăng qua các tháng nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận dân cư có mức sống thấp trong việc thanh toán cho các nhu cầu về giáo dục, y tế và các nhu cầu khác cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống.
Do nền kinh tế tăng trưởng khá cùng với việc triển khai nhiều chương trình mục tiêu có liên quan đến xoá đói giảm nghèo, nên đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh từng bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người của các hộ dân cư tăng cao. Tuy nhiên do giá cả hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ liên tục tăng qua các tháng nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận dân cư có mức sống thấp trong việc thanh toán cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, dự ước tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2007 là 20,69%, giảm 3,05% so với năm 2006, vượt so với kế hoạch năm 2007 là 0,55%.
2. Dân số:
Trong những năm qua, công tác dân số và gia đình đã được các cấp, các ngành và các địa phương hết sức quan tâm nên đã thu được nhiều kết quả tích cực. Năm 2007, tỷ suất sinh thô toàn tỉnh là 14,89%0, giảm 0,21%0 so với năm 2006 và hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra. Tuy mức giảm tỷ suất sinh thô năm 2007 tính chung toàn tỉnh đạt kế hoạch đề ra nhưng không đồng đều giữa các vùng, các địa phương. Bên cạnh các huyện có mức giảm sinh khá cao và đạt kế hoạch đề ra là Thành Phố, Sông Công, Phú Lương, Đồng Hỷ và Phú Bình thì các huyện còn lại có mức giảm sinh thấp và không đạt kế hoạch là Võ Nhai, Đại Từ, Phổ Yên và Định Hoá.
Với tỷ suất sinh thô như trên, tốc độ tăng dân số tự nhiên sẽ ở mức khoảng 1%. Dự ước dân số trung bình toàn tỉnh năm 2007 là 1.142.810 người, tăng 1,38% so với năm 2006, trong đó dân số khu vực thành thị là 276.610 người (chiếm tỷ trọng 24,2%) và khu vực nông thôn là 866.000 người (chiếm 75,8%).
3. Kết quả giải quyết việc làm:
Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2007 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 15.000 người, đạt 100% mục tiêu kế hoạch đề ra. Trong đó, giải quyết việc làm thông qua bổ sung vào làm việc trong các doanh nghiệp được 8.000 người, tăng 6,67% so với năm 2006; xuất khẩu lao động được 2.000 người, chỉ bằng 80% so với năm 2006 và thông qua cho vay vốn các dự án nhỏ được khoảng 5.000 người…
Theo kết quả điều tra, tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực thành thị của tỉnh năm 2007 là 5,14%, thấp hơn 0,03% so với năm 2006.
Vấn đề khó khăn trong công tác giải quyết việc làm hiện nay là số người có trình độ tay nghề kỹ thuật chiếm tỷ trọng rất ít, trong khi đó nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp chủ yếu là lao động có tay nghề.
4. Văn hoá thông tin và hoạt động thể thao:
Năm 2007, tỉnh Thái Nguyên có nhiều sự kiện chính trị và văn hoá. ngành Văn hóa Thông tin và thể thao của tỉnh đã tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, các sự kiện chính trị và quảng bá, tổ chức thành công năm du lịch quốc gia tại Thái Nguyên 2007.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh. Công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở kinh doanh nhà nghỉ khách sạn và cơ sở kinh doanh băng đĩa nhạc và internet tiếp tục được tăng cường.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động. Trong thể thao thành tích cao, năm 2007 đoàn thể thao Thái Nguyên đã tham gia thi đấu nhiều giải khu vực, toàn quốc và quốc tế. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhất là cơ sở vật chất và điều kiện sinh hoạt cho vận động viên, nhưng các vận động viên Thể thao đã đạt được những thành tích cao. Tại các giải thể thao quốc tế, các vận động viên của Thái Nguyên đã giành được 9 huy chương vàng (riêng tại seagames lần thứ 24 đoạt được 5 huy chương vàng ở 3 môn thể thao: điền kinh, karate và vật); 4 huy chương bạc và 1 huy chương đồng. Tại các giải thể thao toàn quốc và khu vực đoạt được 151 huy chương (37 huy chương vàng, 46 huy chương bạc và 86 huy chương đồng). Đoàn thể thao thành tích cao của Thái Nguyên hiện có 27 kiện tướng, 36 vận động viên cấp I và đã cung cấp 29 vận động viên cho đội tuyển quốc gia.
5. Y tế:
Năm 2007, nặc dù trên phạm vi cả nước có xuất hiện nhiều đợt bệnh dịch với số lượng người mắc tương đối lớn như dịch thuỷ đậu, dịch tiêu chảy cấp… nhưng do làm tốt và triển khai sớm các hoạt động phòng chống dịch nên trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xảy ra, chỉ xuất hiện cục bộ. Công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân trên địa bàn luôn được quan tâm. Tổng số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh năm 2007 tương đương năm 2006. Hầu hết các bệnh viện đều đạt và vượt kế hoạch giường bệnh. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn tỉnh đạt 157%, tuy thấp hơn năm trước 5,8% nhưng nhìn chung các bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải, trong đó bệnh viện tuyến tỉnh công suất sử dụng giường bệnh đạt 148,9%, tuyến huyện đạt 165,18%.
Công tác khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi được quan tâm thường xuyên, năm 2007 có thêm 52 xã đặc biệt khó khăn trong chương trình 135 được mua thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Công tác giám sát và phòng chống bệnh dịch nguy hiểm được duy trì thường xuyên. Chương trình tiêm chủng mở rộng đều đạt kế hoạch và vượt chỉ tiêu kế hoạch quốc gia.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã có 8 vụ ngộ độc thực phẩm với 64 người bị mắc, tuy nhiên do mức độ còn nhẹ nên không có trường hợp nào bị tử vong.
Tình hình lây nhiễm HIV-AIDS: Tính luỹ kế đến 30/11/2007, trên địa bàn đã quản lý, theo dõi và phát hiện được 3.523 người nhiễm HIV, tăng 44,14% so với cùng kỳ. Trong đó, số mới phát hiện được từ đầu năm đến 30/11/2007 là 1.079 người (riêng tháng 11/2007 đã có 151 người nhiễm HIV mới được phát hiện). Trong tổng số 3.523 người bị nhiễm HIV, hiện có 1.042 người đã bị chuyển sang giai đoạn AIDS còn sống và 657 người đã bị tử vong do AIDS
Về công tác giám sát, tư vấn, xét nghiệm tự nguyện và quản lý các đối tượng bị nhiễm HIV: Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 7 phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện (2 phòng tuyến tỉnh và 5 phòng tuyến huyện do dự án LIFE-GAP và quỹ toàn cầu tài trợ). Trong năm đã tư vấn xét nghiệm cho mọi đối tượng có nhu cầu. Bên cạnh đó, công tác giám sát phát hiện lây nhiễm ở các đối tượng trọng điểm, nguy cơ cao được duy trì thực hiện để có những biện pháp điều trị dự phòng.
6. Giáo dục, đào tạo
a. Giáo dục phổ thông và mầm non:
- Kết quả thi tốt nghiệp: Tính chung cả 2 đợt thi, tỷ lệ tốt nghiệp hệ trung học phổ thông và bổ túc trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên đạt 69,83%. Trong đó, hệ trung học phổ thông đạt 79,4% (lần 1 tỷ lệ tốt nghiệp đạt gần 63% ; lần 2 đạt 45,62%); hệ bổ túc trung học phổ thông đạt 41% (đợt 1 đạt tỷ lệ 22,43%; đợt 2 đạt 26,15%). Đây là năm đầu tiên thực hiện thi tốt nghiệp trung học phổ thông bằng hình thức thi trắc nghiệm 3 môn trong tổng số 6 môn thi. Mặc dù, kết quả chấm thi tốt nghiệp đã phản ánh đúng chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, đây cũng là năm đánh dấu và nhìn nhận lại chất lượng dạy và học của hệ thống giáo dục hiện nay.
- Khai giảng năm học 2007-2008 : Năm học 2007-2008 ngành giáo dục có kế hoạch và quyết tâm lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy và học. Theo kết quả sơ bộ, số học sinh các cấp học như sau :
Giáo dục mầm non: Khai giảng năm học 2007 - 2008 toàn tỉnh có 37,2 nghìn cháu trong độ tuổi từ 3-5 tuổi theo học mẫu giáo, tăng 3,2% so đầu năm học trước và 8,1 nghìn trẻ em dưới 3 tuổi đến nhà trẻ (tăng 2,43%). Mặc dù số trẻ theo học mẫu giáo và số trẻ được huy động vào nhà trẻ đều tăng so với năm học trước nhưng so với số trẻ trong độ tuổi vẫn đạt rất thấp (mẫu giáo đạt 82%, nhà trẻ mới đạt 25%), nhưng vẫn cao hơn bình quân chung cả nước (tỷ lệ này của cả nước tương ứng là 63% và 12%).
Giáo dục phổ thông:
Năm học 2007 – 2008 toàn tỉnh có 437 trường phổ thông, tương đương so với năm học trước. Trong đó, có 227 trường tiểu học; 1 trường cấp I-II; 178 trường trung học cơ sở; 3 trường cấp II-III và 28 trường phổ thông trung học.
Khai giảng năm học 2007 - 2008 toàn tỉnh có 197,3 nghìn học sinh phổ thông các cấp, giảm 0,75% so với năm học trước (giảm ở khối tiểu học và trung học cơ sở). Học sinh tiểu học có 77,8 nghìn em (giảm 0,16%), trong đó số học sinh tuyển mới vào lớp 1 có 15,85 nghìn em; Học sinh trung học cơ sở có 77,3 nghìn em (giảm 2,63%), trong đó số học sinh vào lớp 6 có 16,6 nghìn em; Số học sinh trung học phổ thông (chưa bao gồm học sinh bổ túc trung học phổ thông) có 42,1 nghìn em (tăng 1,7%).
Về cơ sở vật chất: Bằng các nguồn ngân sách và đóng góp của nhân dân, công tác hoàn thiện, sửa chữa lớn và đầu tư xây dựng mới trường, lớp phục vụ cho dạy và học được củng cố. Tổng số phòng học xây dựng mới và sửa chữa lớn được đưa vào sử dụng trong năm học này là 283 phòng, trong đó, xây dựng mới là 80 phòng, nâng tổng số phòng học phổ thông toàn tỉnh đạt 6.400 phòng học.
b. Đào tạo chuyên nghiệp:
Các trường đại học và cao đẳng cơ bản đã hoàn thành việc tuyển sinh. Năm học 2007-2008, theo số liệu thống kê từ các trường đại học trên địa bàn, tính đến nay tổng số sinh viên trúng tuyển hệ chính quy dài hạn đã nhập học là 7.922 sinh viên, tăng trên 35% so với tuyển mới của năm trước và tăng chủ yếu do một số trường mở rộng quy mô đào tạo, tăng khoa, tăng lớp. Trong đó, các trường có sinh viên tuyển mới với số lượng lớn và tăng nhiều với năm học trước là: trường Đại học sư phạm 2.127 sinh viên, tăng 617 sinh viên (+40,8%); Đại học Nông lâm 1.594 sinh viên, tăng 906 sinh viên, Đại học kỹ thuật công nghiệp 2.009 sinh viên, tăng 311 sinh viên và Khoa công nghệ thông tin 701 sinh viên, tăng 300 sinh viên...
7. Trật tự, an toàn giao thông:
Tình hình an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh tháng 11/2007 đã có sự chuyển biến tích cực, giảm toàn diện cả về số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ. Tuy nhiên nếu tính chung 11 đầu năm 2007 thì mặc dù số vụ tai nạn có giảm nhưng số người bị chết vẫn tăng so với cùng kỳ và vượt so với dự báo ban đầu của ngành chức năng.
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, tháng 11/2007, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, tăng 5 vụ so với tháng trước và giảm 9 vụ so với cùng kỳ, đã làm chết 17 người và bị thương 12 người. So với tháng trước, số người chết do tai nạn giao thông tăng 6 người và số người bị thương tăng 5 người. So với cùng kỳ, số người chết giảm 3 người và số người bị thương giảm 11 người. Tính chung 11 tháng đầu năm 2007, trên địa bàn xảy ra 185 vụ tai nạn giao thông, làm chết 171 người và bị thương 106 người. So với 11 tháng đầu năm 2006, số vụ tai nạn giảm 22 vụ (giảm 10,6%), số người bị chết tăng 12 người (tăng 7,5%) và số người bị thương giảm 76 người (giảm 41,8%).
Nguyên nhân của các vụ tai nạn giao thông chủ yếu là do ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông không cao. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như mật độ phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh, trong khi cơ sở hạ tầng giao thông tại một số tuyến đường chưa được đầu tư, tu sửa hoặc tiến độ thi công chậm nên gây ảnh hưởng đến người tham gia giao thông.
Cùng với mối lo chung về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông của cả nước và thực hiện Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29-6-2007 của Chính Phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm để kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế tai nạn giao thông như: Tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý, cưỡng chế các hành vi vi phạm; tổ chức Ngày hội tuổi trẻ Thái Nguyên với an toàn giao thông và hội thi lái xe mô tô an toàn; 180 xã, phường, thị trấn của tỉnh Thái Nguyên đồng loạt ra quân giải toả những vi phạm trên đất hành lang đường bộ, đường sắt theo kế hoạch 13 của UBND tỉnh; ký cam kết đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy trên tất cả các tuyến đường đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và thực hiện toàn dân đội mũ bảo hiểm trên tất cả các tuyến đường khi đi mô tô, xe gắn máy từ ngày 15/12/2007… Tuy nhiên, vấn đề hạn chế tai nạn giao thông còn hết sức phức tạp, cần phải duy trì thường xuyên và phải có sự kết hợp nhiều phía giữa người dân, các cấp, các ngành cùng quan tâm chỉ đạo và thực hiện.
Tóm lại: Tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2007 tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh đều hoàn thành so với kế hoạch và tăng khá so với cùng kỳ. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy thời tiết không thuận, có nhiều diễn biến bất thường trong vụ Đông Xuân nhưng nhìn chung vẫn đạt được những kết quả khả quan. Sản xuất công nghiệp và các hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì được tốc độ tăng cao. Hoạt động xuất nhập khẩu đạt kết quả vượt trội so với năm trước; vốn đầu tư thực hiện trong nước và vốn đầu tư nước ngoài đều tăng nhanh. Một số lĩnh vực xã hội cũng có sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, trong năm nay chỉ số giá tiêu dùng tăng khá cao, tiến độ triển khai thực hiện các dự án, công trình trọng điểm còn chậm, một số vấn đề về xã hội còn nhiều bức xúc nhất là tệ nạn ma tuý, tình hình lây nhiễm HIV, AIDS và tai nạn giao thông… tuy có nhiều biện pháp nhằm kiềm chế nhưng vẫn chưa có xu hướng giảm.
Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: