BÁO CÁO: Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008
I. Hoạt động chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh
Thực hiện chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương về các nhiệm vụ, giải pháp điều hành phát triển kinh tế năm 2008, UBND tỉnh nghiêm túc tiếp thu để điều chỉnh, bổ sung kịp thời vào quy chế làm việc và hoạt động điều hành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương theo hướng phát huy dân chủ, đoàn kết và phân rõ trách nhiệm của từng thành viên trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các Nghị quyết của Cấp uỷ và HĐND tỉnh; đồng thời sửa chữa những tồn tại trong chỉ đạo, điều hành trong thời gian trước để chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao chất lượng tham mưu đảm bảo kịp thời và đúng các quy định.
Với tinh thần đó, ngay sau khi kết thúc kỳ họp thứ 9 của HĐND tỉnh vào cuối năm 2007, UBND tỉnh kịp thời giao nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 cho các ngành, các địa phương; với hệ thống các giải pháp điều hành chủ yếu nhằm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tập trung thực hiện nhóm giải pháp trọng tâm, trọng điểm([1]), tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư, thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ người nghèo và các đối tượng gặp khó khăn, tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, quy hoạch và xây dựng quy hoạch; đẩy mạnh cải cách hành chính, thu hút đầu tư, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án trọng điểm, công tác xã hội hoá, tập trung chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí… nhằm thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững([2]).
UBND tỉnh đã kịp thời bàn hành hệ thống các văn bản chỉ đạo và điều hành thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng; đã chỉ đạo các ngành chuyên môn xây dựng và trình HĐND tỉnh ban hành nhiều nghị quyết tại các kỳ họp trong năm 2008, thống nhất chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương([3]).
Công tác chỉ đạo điều hành UBND tỉnh luôn phát huy tinh thần đoàn kết, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể và vai trò cá nhân lãnh đạo. Duy trì chế độ họp UBND tỉnh hàng tháng, quý để chỉ đạo, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và triển khai nhiệm vụ kế hoạch trong thời gian tới. UBND tỉnh đã đảm bảo chế độ báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương theo đúng quy định và thẩm quyền.
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công phụ trách về ngành, lĩnh vực và tình hình thực hiện nhiệm vụ của các huyện, thành phố, thị xã. Duy trì chế độ họp giao ban hàng tuần giữa Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh và Văn phòng UBND tỉnh để bàn bạc, thống nhất các nội dung kịp thời chỉ đạo, điều hành và giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, phát sinh vướng mắc của ngành, địa phương, đơn vị. Hoạt động chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh cũng như chính quyền các cấp được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các chương trình, đề án, dự án, công trình trọng điểm. Từng bước chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương làm việc của các cơ quan hành chính trong tỉnh; đồng thời tăng cường hoạt động kiểm tra, nắm bắt tình hình cơ sở, phát hiện và xử lý kịp thời những vướng mắc, giúp các đơn vị thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
II. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008
1. Khái quát chung:
Bước vào triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2008, chúng ta đã gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh tế thế giới biến động phức tạp, sự suy thoái của nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu; đồng thời trên địa bàn tỉnh lại gặp khó khăn như: về thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài làm cho đàn gia súc, gia cầm, và nhiều diện tích mạ, lúa mới cấy ở nhiều địa phương chết hàng loạt; tình hình dịch bệnh trên gia súc gia cầm, kể cả trên người đã xảy ra ở một số địa phương; lạm phát, giá cả hàng hoá tăng cao… đã làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Song được sự chỉ đạo, giúp đỡ hiệu quả của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, các cấp chính quyền đã chủ động theo sát tình hình, phân tích các diễn biến, tiếp thu các ý kiến chỉ đạo, đóng góp, đề cao trách nhiệm, quyết liệt chỉ đạo điều hành thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra và với nhiều nỗ lực cố gắng, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội và duy trì được nhịp độ phát triển.
Kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Tổng sản phẩm trong tỉnh (theo giá thực tế) ước đạt 13.421,78 tỷ đồng. Trong đó, khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 39,78%; khu vực dịch vụ chiếm 36,24%; khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 23,98%. GDP bình quân đầu người ước đạt 11,7 triệu đồng/người/năm, tăng 2,9 triệu đồng/người so với năm 2007. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; văn hoá, xã hội đạt được nhiều tiến bộ; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững. Cơ bản các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn đạt 11,47%.
2. GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 11,7 triệu đồng, vượt kế hoạch và tăng 2,9 triệu đồng/người so với năm 2007.
3. Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.231 tỷ đồng, đạt 144% so với dự toán đầu năm.
4. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) trên địa bàn đạt 8.600 tỷ đồng, tăng 17,2% so với năm 2007.
5. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt 113 triệu USD, đạt 166,3% kế hoạch. Trong đó, xuất khẩu địa phương đạt 72,11 triệu USD, đạt 150,2% kế hoạch, tăng 60,7% so với cùng kỳ.
6. Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 417,23 nghìn tấn, đạt 104,31% kế hoạch, tăng 4,5% so với năm 2007.
7. Diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh được 6.068 ha; trong đó, riêng địa phương trồng tập trung đạt 5.630 ha, đạt 156,4% kế hoạch.
Diện tích chè trồng mới và phục hồi được 753 ha, đạt 125,5% kế hoạch.
8. Tỷ lệ che phủ rừng tính đến hết năm 2008 là 48%, đạt mục tiêu kế hoạch.
9. Tỷ lệ sử dụng nước sạch ở nông thôn là 78%, đạt mục tiêu kế hoạch.
10. Tỷ lệ sinh thô trên địa bàn ước đạt 14,72%o, giảm 0,2%o so với năm 2007.
11. Tạo việc làm mới cho 16.250 lao động, đạt 101,6% kế hoạch, trong đó xuất khẩu được 2.275 lao động.
12. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2008 còn 17,74%, giảm 2,95% so với năm 2007.
13. Giảm tỷ lệ trẻ em (dưới 5 tuổi) suy dinh dưỡng xuống còn 20,6%, đạt mục tiêu kế hoạch.
2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 trên các lĩnh vực cụ thể, như sau:
2.1. Về lĩnh vực kinh tế:
Tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2008 (theo giá so sánh 1994) ước đạt 5.257,2 tỷ đồng, tăng 11,47% so với năm 2007. Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp thuỷ sản ước đạt 1.252,7 tỷ đồng, tăng 4,5%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 2.237,8 tỷ đồng, tăng 15,81%; khu vực dịch vụ ước đạt 1.766,7 tỷ đồng, tăng 11,47% so với năm 2007.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 (theo giá cố định năm 1994) ước đạt 8.600 tỷ đồng, tăng 17,2% so với năm 2007, đạt 96,63% kế hoạch([4]). Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn có nhiều biến động: 6 tháng đầu năm giá trị sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng 22,5% so với cùng kỳ và đạt 45,5% kế hoạch; 9 tháng tăng 17,4% cùng kỳ và đạt 67,93% kế hoạch; bước sang quý IV/2008 tình hình sản xuất chịu nhiều tác động bất lợi của thị trường trong nước và thị trường thế giới làm cho một loạt các doanh nghiệp luyện kim,các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn về vốn và tiêu thụ sản phẩm, sản xuất cầm chừng, thậm chí sụt giảm mạnh so với cùng kỳ, mặt khác các doanh nghiệp nhập phôi thép nhiều với giá cao nên là nguyên nhân chính làm cho tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệpquý IV/2008 chỉ bằng 99,4% cùng kỳ, tính chung cả năm giá trị sản xuất chỉ tăng 17,2%, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm 2008.
Công tác cải cách hành chính, thu hút đầu tư được đẩy mạnh và có chuyển biến tích cực, mức đầu tư phát triển của nền kinh tế tăng khá, vốn đầu tư và phát triển doanh nghiệp được tiếp tục thu hút, tạo tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong các năm tiếp theo. Trong năm 2008, nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đã đầu tư vào tỉnh, như: Tập đoàn ô tô Vinaxuki, Công ty phụ tùng máy ô tô Hà Nội, Tập đoàn Lệ Trạch - Đài Loan và các nhà đầu tư từ Mỹ, Nhật, Hàn Quốc Trung Quốc, Singapore, Malaixia… đến tìm hiểu cơ hội hợp tác, đầu tư vào tỉnh; đồng thời Tỉnh cũng chủ động tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là tại tỉnh Gyeongsangbuk - Hàn Quốc đã có nhiều doanh nghiệp gặp gỡ, trao đổi và hợp tác trong sản xuất, kinh doanh.
Các khu, cụm công nghiệp của Trung ương cũng như của địa phương tiếp tục được Trung ương, các cấp chính quyền và các nhà đầu tư quan tâm, lập và điều chỉnh quy hoạch, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng, mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả của các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tạo điều kiện cho 327 doanh nghiệp thành lập mới làm tăng thêm năng lực sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm thu hút nhiều lao động của địa phương([5]). Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh ước đạt 3.170 tỷ đồng, tăng 9,7% so với năm trước([6]).
Thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 1.231 tỷ đồng, đạt 144% so với dự toán đầu năm,hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, nhìn chung các khoản thu đều cao so với cùng kỳ và so với dự toán. Chi ngân sách địa phương, cơ bản đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Về hoạt động tín dụng ngành Ngân hàng đã bám sát mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế trên địa bàn, đáp ứng nhu cầu vay phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh; tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế và dân cư tính đến thời điểm 31/12/2008 ước đạt 8.200 tỷ đồng; dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước đạt 11.100 tỷ đồng([7]).
Hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội; các mặt hàng chính sách phục vụ nhân dân miền núi, vùng cao đảm bảo chất lượng và cung ứng kịp thời. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được duy trì thường xuyên. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2008 ước đạt6.312 tỷ đồng, tăng 25,8% so với năm trước([8]). Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2008 tăng19,45% so với tháng 12/2007.
Mặc dù trong những tháng cuối năm tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, giá cả giảm theo tình hình chung của nền kình tế thế giới, nhưng giá trị xuất khẩu trong năm đạt 113 triệu USD đạt giá trị vượt trội so với kế hoạch bằng 166,3% kế hoạch; giá trị nhập khẩu ước đạt 144 triệu USD, bằng 72% so với cùng kỳ năm trước([9]).Hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn cơ bản đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất và đi lại của nhân dân, tiếp tục phát huy và nâng cao chất lượng hoạt động của các tuyến xe buýt nhằm góp phần giảm bớt lượng người và xe lưu thông, nâng cao văn minh đô thị và phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân đặc biệt là học sinh, sinh viên, cán bộ, công nhân viên chức([10]). Hệ thống bưu chính, viễn thông, thông tin truyền thông tiếp tục được đầu tư, nâng cấp và mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân([11]).
Về sản xuất nông, lâm nghiệp do chủ động triển khai đồng bộ các khâu trong sản xuất và kịp thời có các biện pháp khắc phục và thực hiện phương án hiệu quả nên sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá; chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có xu hướng tăng dần, lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp chưa đáp ứng được các nhu cầu phục vụ và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nông nghiệp.Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 417,2 nghìn tấn, đạt 104,3% kế hoạch, tăng 4,5% so với năm trước([12]). Diện tích trồng chè mới và cải tạo phục hồi, diện tích trồng rừng hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra; công tác chăm sóc rừng trồng và khoanh nuôi tái sinh được triển khai đúng kế hoạch([13]). Công tác quản lý, bảo vệ và khai thác kinh tế rừng cơ bản giữ được ổn định, những "điểm nóng" về khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn đã được kịp thời xử lý([14]).
Những tháng đầu năm chăn nuôi gia súc, gia cầm gặp nhiều khó khăn, giá nguyên liệu chăn nuôi tăng cao; dịch lở mồm, long móng, tai xanh, dịch cúm gia cầm… nhưng được sựchỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và kinh nghiệm chống và dập dịch kịp thời nên đến nay ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển khá ổn định và không có bệnh dịch lớn xảy ra; giá trị sản xuất trong ngành chăn nuôi đã tăng 9,88%; trong đó đàn gia súc tăng 11,86%, gia cầm tăng 4,05% so với năm trước([15]).
- Về công tác phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai: các cơ quan chức năng và các địa phương đã thường xuyên chủ động tăng cường công tác quan quản lý, kiểm tra, tu bổ hệ thống đê, kênh thuỷ lợi đảm bảo công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất; chủ động triển khai công tác kiểm kê vật tư dự trữ phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiệt hai do thiên tai gây ra. Mặc dù đã chủ động và kip thời tổ chức phòng chống nhưng do trên địa bàn xuất hiện nhiều trận mưa to kết hợp với lốc xoáy cục bộ ở một số địa phương; ảnh hưởng của hoàn lưu bão, áp thấp nhiệt đới; đặc biệt là cơn bão số 4 đã làm 6 người chết, 3 người bị thương, gây thiệt hại về tài sản, hoa màu của nhân dân, phá huỷ một số công trình công cộng tại các địa phương với tổng giá trị thiệt hại khoảng 48,5 tỷ đồng; đợt cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 2008 do mưa lũ gây thiệt hại làm 8 người chết, nhiều công trình thuỷ lợi đường giao thông sạt lở, cầu treo, cầu tạm hư hỏng, cuốn trôi nhiều gia súc gia cầm, gần 430ha ao hồ bị ngập, nhiều diện tích lúa, hoa màu bị ngập và mất trắng ước thiệt hại trên 85,3 tỷ đồng([16]); ngay sau khi thiên tai xảy ra, các cơ quan chức năng, các địa phương đã khẩn trương khắc phục hậu quả và tổ chức cứu trợ, giúp đỡ các gia đình, địa phương gặp nạn để nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất.
Tập trung làm tốt công tác thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư trên địa bàn; công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường đã được tăng cường bằng cả cơ chế quản lý và công tác cán bộ… nên đã cơ bản ngăn chặn được tình trạng khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép và đã xử lý xong về cơ bản các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Xây dựng và ban hành quy chế lựa chọn ưu tiên các doanh nghiệp, nhà đầu tư khai thác, chế biến sâu tài nguyên khoáng sản, sử dụng công nghệ hiện đại tiết kiệm nguyên liệu và bảo vệ môi trường. Tăng cường chỉ đạo, đôn đốc kiểm tra việc cấp, sử dụng đất của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Qua công tác thanh tra, kiểm trong các lĩnh vực đất đai, khoáng sản, môi trường đã kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm theo quy định([17]).
2.2. Về lĩnh vực văn hoá - xã hội
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có những chuyển biến tiến bộ. Các chỉ tiêu về giáo dục, tạo việc làm đạt kế hoạch đề ra. Kết thúc năm học 2007 - 2008 chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Giáo dục mầm non phát triển tốt các loại hình; duy trì phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở, phổ thông trung học tiếp tục được chỉ đạo một cách toàn diện. Công tác quản lý giáo dục - đào tạo từng bước được đổi mới; cơ sở vật chất trường, lớp được tăng cường đầu tư xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch thực hiện đề án kiên cố hoá trường lớp và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên, công tác thanh tra, kiểm tra chuyên môn, thi đua, kiểm tra chuyên đề và duy trì nề nếp, kỷ cương trong các đơn vị. Chỉ đạo và tổ chức tốt các kỳ thi trên địa bàn, từng bước cải tiến công tác thi tuyển vào các cấp, đảm bảo an toàn, nghiêm túc, có tác dụng giáo dục cao, tạo được niềm tin trong nhân dân và xã hội, kết quả học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông qua 2 kỳ thi đạt 88,4%, tỷ lệ học sinh giỏi quốc gia tăng so với năm 2007([18]).
Về y tế, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn xảy ra. Các cơ sở y tế Nhà nước đã tổ chức tốt việc khám chữa bệnh, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhân dân. Các Chương trình y tế quốc gia trên địa bàn được triển khai theo đúng kế hoạch. Các cơ sở y tế được đầu tư nâng cấp, tuy nhiên công suất sử dụng giường bệnh của tất cả các bệnh viện vẫn đạt mức cao, bình quân toàn tỉnh là 158,7%, trong đó tuyến tính 151,06%, tuyến huyện 166,37%. Công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em được tăng cường về kỹ năng tuyên truyền cho các tuyến, cộng tác viên, duy trì hoạt động theo dõi, giám sát tăng trưởng, phục hồi dinh dưỡng trẻ em nên tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm dần trong thời gian qua; năm 2008 ước đạt 20,6%, giảm 1,5% so với năm 2007, vượt chỉ tiêu kế hoạch năm. Công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là phòng, chống dịch tiêu chảy cấp ở người, phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh được triển khai và duy trì thường xuyên; tính luỹ kế đến 31/10/2008 trên địa bàn đã quản lý, theo dõi và phát hiện được 4.887 người nhiễm HIV/AIDS. Công tác khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèovà trẻ em dưới 6 tuổi được quan tâm và thực hiện có hiệu quả. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các sai phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý hành nghề y dược tư nhân, giá thuốc được thực hiện thường xuyên, qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời các cơ sở sai phạm([19]).
Công tác xoá đói giảm nghèo tiếp tục đạt được kết quả tốt. Các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn và các chính sách trợ giúp trực tiếp về sản xuất và đời sống cho dân tộc thiểu số, người nghèo được đẩy mạnh, tổ chức thực hiện các nội dung của Chương trình 135, Chương trình 134 đảm bảo kịp thời và hiệu quả([20]). Đã triển khai đồng bộ các chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm và các chính sách xã hội. Số hộ thoát nghèo trong năm 2008 là 6.904 hộ, tỷ lệ hộ nghèo còn 17,74%, giảm 2,95% tổng số hộ nghèo tại thời điểm tháng 12/2007; Làm tốt các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa và thực hiện chính sách xã hội, chính sách với người có công với nước, trong năm 2008 ước thực hiện xoá được 1.740 nhà dột nát, đạt 52% chỉ tiêu đề án xoá nhà dột nát cho hộ nghèo giai đoạn 2008 - 2010. Thực hiện thanh tra, kiểm tra và kịp thời xử lý vi phạm đối với các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện theo Bộ Luật Lao động. Quan tâm việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua công tác đào tạo nghề ([21]).
Công tác dân số và gia đình đã được các cấp, các ngành và các địa phương tăng cườngquan tâm; tỷ suất sinh thô năm 2008, ước thực hiện là 0,2%o. Dự ước dân số trung bình toàn tỉnh năm 2008 là 1,15 triệu người, tăng 1,08% so với năm 2007, trong đó dân số khu vực thành thị là 295 nghìn người, chiếm tỷ trọng 25,65%, khu vực nông thôn là 855 nghìn người, chiếm 74,35% tổng dân số trên địa bàn.
Hoạt động văn hoá - thể thao, phát thanh - truyền hình đã bám sát được các nhiệm vụ trọng tâm, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, nhằm tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương tới đông đảo nhân dân trong tỉnh. Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ hội phục vụ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và kỷ niệm các ngày lễ lớn; cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh tại các địa phương([22]). Chất lượng phát thanh, truyền hình tiếp tục được nâng lên, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin và giải trí ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh([23]).
Công tác quản lý khoa học và công nghệ trên địa bàn đã bám sát chương trình, kế hoạch; tăng cường ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống thông qua thực hiện các đề tài, dự án được triển khai theo đúng kế hoạch. Tập trung chỉ đạo ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống thông qua thực hiện các đề tài, dự án. Công tác thanh tra, quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ... được duy trì thực hiện theo quy định.
2.3. Lĩnh vực nội chính
- Công tác tổ chức: công tác quản lý, sử dụng, đào tạo, tuyển dụng cán bộ, công chức... được thực hiện theo đúng quy định. Tổ chức thực hiện tốt đề án thành lập, hợp nhất, sáp nhập, giải thể bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyệntheo Nghị định số 13 và 14 ngày 4/2/2008 của Chính phủ bắt đầu hoạt động từ ngày 1/5/2008. Tăng cường công tác điều động, luân chuyển cán bộ giữa các cơ quan hành chính cấp Sở, ngành và cấp huyện; tổ chức thực hiện xét tuyển viên chức đối với người lao động đang hợp đồng làm việc trong cơ sở công lập thuộc Ngành Giáo dục - Đào tạo và Ngành Y tế.
Công tác thi đua, khen thưởng được quan tâm thường xuyên, góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua trên địa bàn, tạo động lực hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo có nhiều chuyển biến tích cực, hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn đi vào nề nếp, theo quy định của pháp luật; tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp để thực hiện quản lý nhà nước về các hoạt động của tôn giáo, kịp thời giải quyết những vướng mắc và chấn chỉnh các hoạt động tôn giáo trái phép.
- Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được quan tâm và chỉ đạo kiên quyết. UBND tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng của tỉnh để triển khai tích cực các quy định của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên tất cả các lĩnh vực; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được các cấp, các ngành quan tâm triển khai đến hầu hết cán bộ, công chức, viên chức, coi đây là trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ.
- Công tác cải cách thủ tục hành chính - thu hút đầu tư: UBND tỉnh triển khai đồng bộ các giải pháp và đã phê duyệt các đề án của các Sở, ngành và địa phương với nội dung tập trung rà soát các quy trình, thủ tục hành chính theo hướng rút ngắn thời gian thực hiện, tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình hoạt động của bộ máy. Các cấp, các ngành tích cực triển khai, giải quyết công việc liên quan đến cải cách các thủ tục hành chính, cơ chế một cửa liên thông kịp thời, đạt hiệu quả đã tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; thực hiện có trọng tâm, trọng điểm ở một số cơ quan đơn vị nhằm tạo ra bước đột phá về cải cách thủ tục hành chính - thu hút đầu tư([24]).
- Công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân: được tập trung giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đã góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Lãnh đạo UBND tỉnh bố trí tiếp dân vào ngày 15 hàng tháng; lãnh đạo các cấp, các ngành đã tăng cường công tác tiếp dân, quan tâm, chỉ đạo thường xuyên công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định. Tỉnh đã mời tổ công tác của Thanh tra Chính phủ về kiểm tra, xem xét để xử lý dứt điểm một số vụ khiếu kiện đông người, kéo dài. Từ đầu năm đến nay đã tổ chứctriển khai 104 cuộc thanh tra, kết thúc 94 cuộc thanh tra, kiểm tra về đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai ở một số ngành, địa phương, quản lý và sử dụng ngân sách... Qua thanh tra đã kịp thời chấn chỉnh một số sai phạm trong quản lý kinh tế, thanh quyết toán công trình và quản lý sử dụng ngân sách ở một số đơn vị.
Công tác rà soát và hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành thường xuyên; tổ chức thẩm định các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương ban hành theo đúng quy định. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, bằng nhiều hình thức khác nhau và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hoạt động tư pháp bổ trợ, trợ giúp pháp lý được các cơ quan chức năng, địa phương triển khai có hiệu quả. Hoạt động thi hành án dân sự được chấn chỉnh một bước, đã góp phần giữ nghiêm kỷ cương xã hội.
Công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Công tác quốc phòng, quân sự địa phương được tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch, tổ chức tuyển và giao quân đạt 100% kế hoạch, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng trên địa bàn tỉnh đạt khá, huấn luyện dân quân tự vệ cho 417 đơn vị, đạt 100% kế hoạch. Tổ chức thực hiện tốt công tác chuẩn bị và thực hành diễn tập khu vực phòng thủ của địa phương theo chỉ đạo của Quân khu.
- Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Lực lượng công an đã thực hiện đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ quản lý địa bàn, quản lý đối tượng, xây dựng các phương án đấu tranh phòng ngừa xâm phạm an ninh quốc gia và đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tội phạm, tai nạn, tệ nạn xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Bảo vệ an toàn tuyệt đối các chuyến thăm và làm việc của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại địa phương, các sự kiện quan trọng, cácngày lễ hội lớn trên địa bàn tỉnh.
Về tình hình tai tệ nạn xã hội: tính đến tháng 12/2008, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1.068 vụ vi phạm về trật tự xã hội; lực lượng quản lý thị trường và các cơ quan chức năng đã xử lý 910 trường hợp vi phạm hàng hoá, thương mại, thu nộp ngân sách nhà nước 3,21 tỷ đồng; tai nạn giao thông đường bộ tuy có giảm về số vụ, nhưng số người bị thương và chết vẫn tăng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 199 vụ, giảm 6 vụ làm 197 người chết, tăng 8 người và 137 người bị thương, tăng 21 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do ý thức chấp hành Luật Giao thông của những người điều khiển phương tiện cơ giới gây ra.
3. Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Việc thực hiện chương trình công tác của UBND tỉnh còn tồn tại các cơ quan, đơn vị có đề án, chương trình đăng ký nhưng triển khai thực hiện chậm, nội dung do thiếu sự phối hợp chặt chẽ nên chất lượng chưa cao. Công tác kiểm tra thi hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn còn hạn chế; việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo của một số cơ quan, đơn vị chưa nghiêm và còn mang tính hình thức.
- Trong chỉ đạo, điều hành của một số cấp, ngành còn có biểu hiện bị động và chưa kiên quyết, đặc biệt là ở ngành, lĩnh vực có tác động lớn đến thu hút đầu tư và tăng trưởng như: công tác giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, giao đất cho các chủ đầu tư dự án, chất lượng tư vấn, tiến độ chuẩn bị các dự án đầu tư còn chậm; tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, các chương trình mục tiêu Quốc gia giải ngân còn chậm, còn dồn vào những tháng cuối năm.
- Sự phối hợp liên ngành giữa các Sở, ngành, địa phương và huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực chưa thường xuyên, chặt chẽ, như: công tác đảm bảo an toàn giao thông; giải quyết khiếu nại, tố cáo, quản lý thị trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; tội phạm và tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma túy… cho nên các hiện tượng, tệ nạn trên vẫn xảy ra và đây là vấn đề xã hội, nhân dân rất quan tâm.
- Các ngành sản xuất kinh doanh đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có dấu hiệu giảm, nhưng tiềm ẩn những yếu tố phức tạp; giá cả nhiều mặt hàng ngành xây dựng, đầu vào sản xuất tăng cao, các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn do nội lực hạn chế và huy động vốn vay với lãi suất cao cùng với sự cạnh tranh của nền kinh tế đã làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, kinh doanh tại địa phương. Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào khả năng tiêu thụ chung và giảm mạnh trong các tháng cuối năm. Sản xuất nông nghiệp đã có nhiều cố gắng nhưng việcchuyển dịch cơ cấu nội ngành còn chậm.
- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch của tỉnh còn nhiều yếu kém, bất cập, đặc biệt là quy hoạch xây dựng; công tác cải cách hành chính ở một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và thu hút đầu tư.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009
Nhiệm vụ kế hoạch năm 2009 có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo điều kiện hoàn thành các mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006-2010. Đây là năm có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi cho phát triển, song vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức, đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất cao của các ngành, các cấp để tận dụng cơ hội, khắc phục những khó khăn, trở ngại, hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra cho năm kế hoạch này.
I. Một số thuận lợi và khó khăn:
1. Thuận lợi: Bước vào năm 2009, tình hình trong nước và thế giới có nhiều yếu tố và điều kiện thuận lợi đan xen với những khó khăn, thách thức cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
- Dự báo trong năm 2009, kinh tế thế giới sẽ từng bước khắc phục tình trạng suy thoái và bước đầu phục hồi, các hoạt động đầu tư, thương mại, du lịch sẽ sôi động hơn, đây là điều kiện để tăng cường hợp tác, mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút các nguồn vốn và công nghệ.
- Ở trong nước, việc xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường sẽ tiếp tục được đẩy mạnh theo đà hội nhập và thực hiện các cam kết kinh tế quốc tế, các văn bản pháp luật về phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế được ban hành trong những năm gần đây tiếp tục đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng ngày càng cao.
- Kết cấu hạ tầng và năng lực sản xuất của các ngành kinh tế đã được đầu tư xây dựng trong thời gian vừa qua sẽ phát huy hiệu quả trong thời gian tới cũng là những điều kiện thuận lợi khi bước vào thực hiện kế hoạch năm 2009.
- Bộ máy tổ chức điều hành nhà nước của tỉnh đã được củng cố và nâng cao, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch đạt hiệu quả cao hơn.
2. Khó khăn: bên cạnh những thuận lợi, trong năm 2009 nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, xu hướng giá cả tăng cao sẽ tiếp tục kéo dài trong năm 2009; tỷ lệ lạm phát cao sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế, đầu tư, xoá đói giảm nghèo và nhất là đến công tác an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Sự phối hợp giữa các ngành ở địa phương và Trung ương chưa thật sự đồng bộ; do đó, việc huy động các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế còn hạn chế và chưa được khai thác triệt để, nhất là khu vực tư nhân và dân cư. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chi phí sản xuất ở tất cả các lĩnh vực còn cao ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh các sản phẩm hàng hoá.
- Chưa tạo được sự đột phá trong công tác cải cách hành chính, đặc biệt là trong khâu cải cách thủ tục hành chính để thu hút đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Do đó, môi trường đầu tư tuy đã được cải thiện song sự phối hợp giữa các ngành, các cấp còn thiếu đồng bộ, trách nhiệm chưa cụ thể, thủ tục hành chính còn rườm rà, năng lực cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế, các chính sách về tài chính, đất đai chưa đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân; hiệu quả một số chính sách còn thấp.
- Chất lượng giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa xứng tầm là trung tâm văn hoá, y tế, giáo dục của vùng.
- Về lĩnh vực xã hội, còn nhiều tồn tại bức xúc, nhất là tệ nạn ma tuý, tai nạn giao thông cần phải tập trung giải quyết.
II. Mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu
1. Mục tiêu, nhiệm vụ
Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là kết cấu hạ tầng phụ trợ cho các khu cụm công nghiệp; kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất cho nông nghiệp, nông thôn; các công trình y tế, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Giải quyết tốt các vấn đề về xã hội, môi trường bảo đảm phát triển bền vững. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp, các ngành; hiệu quả xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách ở địa phương;
Phấn đấu thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 với chủ đề trọng tâm của năm 2009 là “Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó phát triển hạ tầng giao thông là khâu đột phá, năm tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và cải cách hành chính để thu hút đầu tư”.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu:
1. Các chỉ tiêu chủ yếu:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 11% trở lên
Trong đó về cơ cấu: + Công nghiệp - xây dựng: 40%
+ Dịch vụ: 37%
+ Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: 23%
2. GDP bình quân đầu người: 14 triệu đồng/người/năm.
3. Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN đạt 9.950 tỷ đồng
4. Giá trị kim ngạch xuất khẩu trên điạ bàn đạt 121 triệu USD
5. Thu ngân sách trên địa bàn 1.145 tỷ đồng, tăng 6,1% so với thực hiện năm 2008;
6. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng 7% so với năm 2008,
- Tổng sản lượng lương thực có hạt, đạt trên 400 ngàn tấn;
- Giá trị sản xuất trên 1ha diện tích đất nông nghiệp trồng trọt đạt 50 triệu đồng;
- Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng so với năm 2008 là 8%;
- Diện tích trồng rừng mới trên địa bàn: 5.700 ha
Trong đó địa phương trồng rừng tập trung là: 4.500ha
- Diện tích trồng chè mới, cải tạo và phục hồi: 600 ha
- Nâng tỷ lệ độ che phủ rừng lên 49%
- Cung cấp nước hợp vệ sinh cho dân số nông thôn đạt: 84%
7. Nhóm các chỉ tiêu xã hội:
- Mức giảm tỷ suất sinh thô trong năm: 0,2%o
- Tạo việc làm mới cho 16.000 lao động, trong đó xuất khẩu 2.500 lao động.
- Giảm trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới: 20%
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo trong năm 2,5%
8. Đảm bảo an ninh trật tự xã hội và công tác quân sự địa phương phấn đấu hoàn thành 100% các chỉ tiêu đề ra.
III. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển KTXH trên các lĩnh vực
A. Về kinh tế
1. Phát triển công nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản
- Duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm, giảm chi phí trung gian để tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá sản xuất trên địa bàn tỉnh, đồng thời giữ vững và mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Phát triển các sản phẩm công nghiệp có thị trường, khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm tiêu thụ năng lượng bảo vệ môi trường. Năm 2009 dự kiến giá trị sản xuất công nghiệp tăng trên 20%, giảm chi phí trung gian để đạt được mức tăng trưởng giá trị gia tăng ngành công nghiệp - xây dựng trên 15%
- Đẩy mạnh thực hiện đề án phát triển công nghiệp và làng nghề, thu hút đầu tư các dự án sản xuất công nghiệp có công nghệ tiên tiến, hiện đại tạo ra giá trị gia tăng cao ở khu vực đô thị; ngành nghề sử dụng nhiều lao động để thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp nông thôn, lao động thuộc diện nhà nước thu hồi đất để phát triển hạ tầng, khu công nghiệp...
- Khẩn trương triển khai lập và thực hiện quy hoạch các khu cụm công nghiệp của tỉnh, đặc biệt là các khu công nghiệp: Nam Phổ Yên, Tây Phổ Yên Điềm Thuỵ - huyện Phú Bình và khu công nghiệp Yên Bình; lập quy hoạch khu đô thị thuộc xã Đồng Bẩm, xã Cao Ngạn, khu trung tâm chính trị hành chính mới, khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc, quy hoạch khu du lịch ATK liên hoàn để xúc tiến thu hút đầu tư.
- Tổ chức thực hiện các dự án đầu tư xây dựng thuộc các nguồn vốn do các ngành, các địa phương làm chủ đầu tư ngay trong những tháng đầu năm; tiếp tục thực hiện tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình quan trọng, trong đó ưu tiên các dự án, công trình về giao thông trên địa bàn tỉnh, như: dự án đường Quốc lộ 3 mới đoạn Hà Nội - Thái Nguyên, nhà máy xi măng Thái Nguyên, dự án đầu tư mở rộng giai đoạn 2 của Công ty Gang thép Thái Nguyên, dự án Đại học Thái Nguyên, dự án Núi Pháo Vica, đường Bắc Sơn, đường Quang Trung, nghĩa trang Ngân Hà Viên, các dự án giao thông thuộc nguồn vốn OFID và WB3.
- Xúc tiến đẩy nhanh tiến độ xây dựng các toà nhà là khách sạn, trung tâm thương mại, dịch vụ đã được các nhà đầu tư đăng ký trên địa bàn thành phố Thái Nguyên;
2. Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
- Duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; tiếp tục phát triển hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống cho khu vực nông thôn, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp, thuỷ sản theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, sản xuất hàng hoá tập trung, phấn đấu giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 7% , sản lượng lương thực có hạt đảm bảo sản lượng ổn định; giảm chi phí sản xuất, nâng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp tăng trên 5%. Xây dựng và triển khai kế hoạch để thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương khoá X về “nông nghiệp, nông dân và nông thôn” trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng các giải pháp, biện pháp bảo đảm thực hiện các chỉ tiêu đề ra. Trong đó chủ yếu cần tiếp tục thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp. Trong đó chú trọng tăng các loại giống vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
- Củng cố hệ thống các trung tâm, trạm trại phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, trước hết là củng cố bộ máy, cán bộ kỹ thuật có đủ năng lực và tâm huyết nghề nghiệp để thực hiện công tác khuyến nông khuyến lâm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân; mở rộng quyền chủ động về tài chính cho các trạm trại trong hoạt động sản xuất kinh doanh để bảo đảm tính cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ. Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư hạ tầng giống, vườn ươm cho các trạm trại để nâng cao chất lượng nguồn giống vật nuôi, cây trồng.
- Củng cố phát triển kinh tế hợp tác xã, phát triển các làng nghề truyền thống, đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề, hỗ trợ xúc tiến thương mại để tìm kiếm, mở rộng thị trường cho sản phẩm truyền thống; từng bước cơ khí hoá, nâng cao chất lượng hệ thống điện phục vụ nông thôn để thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Truyên truyền, phổ biến và thực hiện hỗ trợ công nghệ bảo quản chế biến nông sản sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị nông sản. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân sống ở nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc.
- Đánh giá kết quả thực hiện của các quy hoạch, đề án, chương trình thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và đề xuất cụ thể trong thực hiện các chương trình, đề án đạt hiệu quả cao và nhân rộng mô hình trong sản xuất nông nghiệp.
3. Phát triển ngành dịch vụ
- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc phát triển các ngành dịch vụ; trong đó tập trung vào các lĩnh vực có lợi thế, đóng góp nhiều cho tăng trưởng kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị ngành dịch vụ tăng 13,5% trở lên.
- Xã hội hoá phát triển trong lĩnh vực du lịch trên cơ sở định hướng quy hoạch để tăng nhanh thu hút đầu tư theo hướng ưu tiên cho các nhà đầu tư có tiềm năng về vốn, có khả năng thực hiện dự án nhanh. Đồng thời cụ thể hoá các chính sách ưu tiên phát triển du lịch, đẩy nhanh tiến độ quy hoạch khu du lịch Hồ Núi Cốc, khu ATK; đẩy mạnh quy hoạch và phát triển các điểm du lịch dịch vụ tại trung tâm thành phố Thái Nguyên, tạo điểm nhấn về du lịch mang bản sắc của vùng.
- Thực hiện quy hoạch dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tài chính, ngân hàng có địa điểm thuận lợi để phát triển kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ.
4. Huy động vốn đầu tư
Huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư vào thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương theo hướng khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, ngành, lĩnh vực.
- Ưu tiên thu hút vốn đầu tư các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp điện tử, công nghệ mới ít gây ô nhiễm môi trường, đổi mới công nghệ trong lĩnh vực chế biến khoáng sản, lĩnh vực du lịch chất lượng cao; đối với các dự án đầu tư công, cần ưu tiên cho lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế - xã hội, các công trình bảo đảm an sinh xã hội; hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng để phục vụ phát triển sản xuất, đặc biệt là đầu tư mạng lưới giao thông, công trình thuỷ lợi; bảo vệ môi trường... Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia và lồng ghép các nguồn vốn, bảo đảm hiệu quả đầu tư và quản lý sử dụng sau đầu tư.
- Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước: bao gồm vốn ngân sách tập trung, vốn hỗ trợ có mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ: ưu tiên bố trí đủ vốn cho các khoản ngân sách vay đến hạn trả, bố trí đủ vốn cho các dự án đã phê duyệt quyết toán, các dự án đối ứng, kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng đã có phương án được duyệt.
- Đối với các dự án đầu tư sản xuất: tăng cường thực hiện công tác xúc tiến, vận động đầu tư, đồng thời công khai quy trình, thủ tục, danh mục dự án vận động trên website của tỉnh và các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao hiệu quả của bộ phận một cửa liên thông, quy định rõ về chính sách đất đai, suất đầu tư và các ràng buộc nếu nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết với tỉnh.
- Đối với các nguồn vốn ODA, NGO: điều tra, khảo sát nhu cầu đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh để xây dựng kế hoạch tổng thể về thu hút đầu tư ODA, NGO bảo đảm tính đồng bộ, tránh chồng chéo trong vận động, quản lý dự án. Trong đó đặc biệt chú ý đến vận động các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, xoá đói giảm nghèo ở các xã vùng sâu, vùng xa;
- Đối với nguồn vốn đối ứng của nhân dân trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: được xác định là nguồn vốn có ý nghĩa xã hội rất lớn, do vậy phải thực hiện tốt việc vận động nhân dân tham gia, tạo sự đồng thuận và nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của cộng đồng trong việc triển khai thực hiện dự án.
5. Cải cách hành chính
Đánh giá kết quả đạt được trên các nội dung của chương trình cải cách hành chính, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể năm 2009 và 2010. Nhiệm vụ cải cách hành chính phải tập trung đột phá vào lĩnh vực tổ chức bộ máy và lề lối làm việc, đơn giản hoá, công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, chấm dứt sự trì trệ trên các lĩnh vực, nhất là sự chồng chéo hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu biện pháp thực hiện của các cấp, các ngành trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính để đạt được mục tiêu thu hút các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế.
B. Về lĩnh vực xã hội
1. Về giáo dục và đào tạo
- Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học, thực hiện có hiệu quả chương trình, đề án về phát triển giáo dục đào tạo, củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở, tăng cường xây dựng các trường chuẩn quốc gia ở các cấp học, thực hiện tốt đề án kiên cố hoá trường lớp học và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên; cụ thể hoá chính sách xã hội hoá và đẩy nhanh thực hiện công tác xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục theo nội dung Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của ngành giáo dục, hội phụ huynh học sinh đối với chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên.
- Đối với công tác đào tạo và dạy nghề: từng bước hoàn thiện hệ thống các trường đào tạo, các trung tâm dạy nghề trong tỉnh để thu hút người học trên cơ sở xã hội hoá, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, tăng cường quản lý nhà nước trong công tác đào tạo, dạy nghề để đạt kết quả cao hơn; nâng cao trình độ, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên trong các trung tâm dạy nghề để nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng yêu cầu xã hội. Có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề hợp lý cho nông dân, các hộ bị nhà nước thu hồi đất và thực hiện giải quyết việc làm bảo đảm cuộc sống người dân;
2. Về khoa học và công nghệ
- Đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ theo hướng chọn lọc để phổ biến, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống. Trong đó chú trọng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, công nghệ tự động hoá, công nghệ sinh học; chuyển giao công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân, nông thôn.
- Nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học, các đề tài khoa học phải gắn với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế của địa phương; căn cứ vào kết quả tổng kết, đánh giá hiệu quả của các đề tài, dự án đã thực hiện, đưa vào ứng dụng thực tiễn để định hướng cho các năm tiếp theo; sử dụng một phần kinh phí nghiên cứu khoa học để thực hiện khảo nghiệm các giống mới, ứng dụng công nghệ chế biến sau thu hoạch, quản lý bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường; hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ. Tăng cường khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển giao công nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin.
3. Về y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Tiếp tục hoàn thiện mạng lưới y tế theo đề án phát triển mạng lưới y tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2010, đặc biệt là thực hiện chuẩn hoá y tế xã và đầu tư bệnh viện tuyến huyện; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ thầy thuốc, tăng cường trang biết bị khám, chữa bệnh, khuyến khích xã hội hoá trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân;
Thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia: nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao tinh thần trách nhiệm y đức trong ngành, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, phòng chống các bệnh dịch nguy hiểm, phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS, tăng cường công tác tiêm chủng mở rộng, phòng chống lao, phong... Tăng cường công tác kiểm tra, quản lý hành nghề y dược tư nhân, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh lao động; quản lý và sử dụng có hiệu quả quỹ bảo hiểm y tế.
4. Về phát triển văn hoá, thông tin, thể thao, phát thanh, truyền hình
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động, tuyên truyền vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hoá” tại các địa phương trong toàn tỉnh. Tạo môi trường lành mạnh, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, hủ tục lạc hậu và tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, thông tin về cơ sở, vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc.
Quản lý, khai tác có hiệu quả các di tích lịch sử - văn hoá gắn với phát triển du lịch. Xây dựng và quản lý tốt các công trình văn hoá, tiếp tục hỗ trợ xây dựng các nhà văn hoá tại các khu dân cư ở các xã, phường. Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá quần chúng.
Phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng. Phát triển một số môn thể thao có thành tích cao. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác văn hoá, thể thao. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các hoạt động văn hoá thể thao.
5. Về Lao động, việc làm, giảm nghèo
Đánh giá chất lượng hoạt động của các Trung tâm dạy nghề trên địa bàn và các hoạt động giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động trên địa bàn để có giải pháp cụ thể định hướng phát triển dạy nghề cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, các hộ gia đình thuộc diện hỗ trợ đào tạo nghề do mất đất sản xuất; công tác đào tạo, giải quyết việc làm phải gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là ở các vùng quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, cụm khu công nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân chuyển đổi nghề nghiệp khi nhà nước thu hồi đất. Năm 2009 phấn đấu giải quyết trên 16.500 việc làm mới, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 35%; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5%, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 2,5% so với tổng số hộ nghèo.
6. Về phòng, chống và giảm mạnh các tệ nạn xã hội
Kiểm soát chặt chẽ tệ nạn ma tuý, mại dâm; gắn các hoạt động của Đoàn Thanh niên từng xã, phường, dưới sự chủ trì của UBND tham gia phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm ngay tại địa bàn. Tăng cường kiểm soát, xử lý nghiêm các đối tượng buôn bán, vận chuyển ma tuý.
Đầu tư hoàn thành Trung tâm chữa bệnh giáo dục và lao động xã hội của tỉnh, tăng cường cơ sở vật chất các trung tâm. Thực hiện tốt chương trình quốc gia về phòng chống ma tuý, trong đó cần làm tốt công tác phối hợp liên ngành, đưa phần lớn người nghiện ở các địa phương vào cai nghiện bắt buộc và tự nguyện. Quản lý chặt sau cai nghiện với trách nhiệm của gia đình và chính quyền cơ sở và tạo việc làm cho các đối tượng này. Nghiên cứu, tổng kết các mô hình, quy trình, phương pháp cai nghiện có hiệu quả để nhân rộng.
Tiếp tục thực hiện chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, phát động mạnh mẽ phong trào thanh niên xung kích, tình nguyện hoàn thành những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, xung kích trên mọi mặt trận giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội.
C. Về lĩnh vực tài nguyên môi trường
- Quản lý và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững, tập trung thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường, đề án bảo vệ cảnh quan môi trường Sông Cầu; khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản, đất đai và đẩy mạnh công tác cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 1597/2007/QĐ-UBND ngày 10/8/2007 ban hành quy định về việc điều chỉnh cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao đã cấp vượt hạn mức đất ở theo quy định, do không tách diện tích đất ở và đất vườn, ao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phòng chống ô nhiễm và bảo vệ môi trường, tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý tài nguyên môi trường; lồng ghép việc bảo vệ môi trường, tăng cường thông tin tuyên truyền về định hướng chiến lược phát triển bền vững đến năm 2020; tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các đơn vị vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường.
D. Về Lĩnh vực nội chính
1. Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp phòng chống tham nhũng, lãng phí
Triển khai thực hiện đồng các bộ luật và chỉ đạo của Chính phủ về phòng chống tham nhũng, lãng phí. Triển khai kế hoạch thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm; nâng cao hiệu quả và chủ động ngăn ngừa tiêu cực, nhũng nhiễu trong thanh tra, kiểm tra. Thực hiện nghiêm quy định về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng.
Các cấp, các ngành xây dựng và thực hiện chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng của đơn vị, tổ chức và chịu trách nhiệm thực hiện có hiệu quả ở đơn vị mình. Tăng cường kiểm tra, giám sát các lĩnh vực đất đai, quản lý tài nguyên khoáng sản, chi tiêu tài chính, thủ tục hành chính và xây dựng cơ bản, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm.
2. Về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội
Củng cố quốc phòng và an ninh, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập, đẩy mạnh trấn áp các hoạt động tội phạm, đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội.
Đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng, nâng cao ý thức cảnh giác, nắm chắc tình hình, có phương án sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Phát động phong trào quần chúng tham gia phòng, chống tội phạm, phòng chống các tệ nạn xã hội.
Mở rộng các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân. Tập trung giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.
Đẩy mạnh hoạt động phòng chống tội phạm, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xử lý nghiêm theo pháp luật các tội phạm về ma túy, mại dâm và các tội phạm nguy hiểm khác. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội, trật tự an toàn giao thông./.
[1] - Cụ thể: về nhóm giải pháp năm đẩy là: đẩy mạnh cải cách hành chính, đẩy mạnh công tác quy hoạch chung, quy hoạch vùng, đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm và đẩy mạnh công cuộc đổi mới đồng bộ các loại hình dịch vụ; bốn quản là: quản lý đầu tư, quản lý đất đai và tài nguyên khoáng sản, quản lý và bảo vệ rừng và quản lý về văn hoá xã hội; ba chống là: chống lãng phí, tham nhũng, chống tội phạm ma tuý và chống quan liêu.
[2] - Chỉ đạo các ngành, các cấp trên địa bàn quản lý chặt chẽ và lập lại trật tự trong việc quản lý lâm sản, chăm sóc, khai thác và bảo vệ rừng; thăm dò, khai thác, chế biến và vận chuyển khoáng sản theo đúng quy định của pháp luật; xử lý và khắc phục được tình trạng khái thác, vận chuyển khoáng sản trái phép; ban hành Quy định về lựa chọn nhà đầu tư và làm thủ tục cấp phép trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh theo đúng thẩm quyền. Đặc biệt coi trọng đến việc khuyến khích các doanh nghiệp tập trung đầu tư vào chế biến sâu nhằm bảo đảm tiết kiệm nguyên liệu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế hư hỏng các công trình giao thông.
- Thực hiện Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh về công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo, UBND tỉnh bố trí lãnh đạo tiếp dân vào ngày 15 hàng tháng tại Phòng tiếp công dân của tỉnh để nắm được tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân để có các giải pháp chỉ đạo, giải quyết kịp thời.
- UBND tỉnh trình Ban Thường vụ Tỉnh uỷ có ý kiến chỉ đạo để thống nhất thực hiện các giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội như: Thành lập Ban Chỉ đạo và hai Đội Kiểm tra chống thất thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đã hoạt động khá hiệu quả và công tác quản lý ngân sách đã có nhiều tiến bộ so với thời gian trước. Thành lập Ban Chỉ đạo bồi thường giải phóng mặt bằng của tỉnh để chỉ đạo, giải quyết kịp thời và đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các công trình, dự án trọng điểm như: dự án đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, khu công nghiệp Trung Thành, khu công nghiệp của Công ty Vinaxuki, dự án Núi pháo vica, các dự án về giao thông trên địa bàn tỉnh… Chỉ đạo đẩy mạnh công tác quy hoạch các khu, cụm công nghiệp, quy hoạch xây dựng, quy hoạch khu trung tâm chính trị - hành chính của tỉnh, quy hoạch khu du lịch Hồ Núi Cốc, quy hoạch ATK liên hoàn… làm cơ sở thu hút đầu tư, quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội nhanh và ổn định.
[3] - Tính từ đầu năm đến nay, UBND tỉnh đã ban hành gần 6.000 văn bản, trong đó 60 văn bản quy phạm pháp luật, 27 chỉ thị, 2.900 quyết định cá biệt, 24 kế hoạch, 1.900 công văn, 99 thông báo kết luận để chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội và đản bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh.
[4] - Trong đó, khối doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 4.722 tỷ đồng, tăng 13,5%; khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 3.126,23 tỷ đồng, tăng 15,5%; khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 373,6 tỷ đồng, giảm 20,6% so với cùng kỳ.
[5] - Đến nay, toàn tỉnh đã và đang quy hoạch đầu tư xây dựng 6 khu công nghiệp tập trung, 25 cụm công nghiệp, với tổng diện tích trên 2.000 ha. Trong đó, diện tích được quy hoạch chi tiết và đầu tư xây dựng là 650 ha; có 61 dự án được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký 2.955 tỷ đồng, trong đó vốn thực hiện 1.114 tỷ đồng. Nhiều địa phương đẩy mạnh công tác quy hoạch, bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất để thu hút đầu tư nên tốc độ tăng trưởng công nghiệp đạt khá cao như: Phổ Yên 39,2%, Đồng Hỷ: 27,61%; Sông Công: 27,14%.
- Năm 2008 đã thu hút và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 01 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 260,000 USD; 10 dự án NGO, với tổng số vốn cam kết tài trợ 135 tỷ đồng; vận động 9 dự án ODA với nguồn vốn là 627 tỷ đồng, có 02 dự án được chấp thuận với 302 tỷ đồng.
- Tính đến tháng 11/2008, trên địa bàn toàn tỉnh có trên 1.820 doanh nghiệp đã thành lập và hoạt động; trong đó, 11 tháng đầu năm 2008 thành lập mới 327 doanh nghiệp, 60 chi nhánh và Văn phòng đại diện với số vốn đăng ký 1.793,73 tỷ đồng; cấp thay đổi đăng ký kinh doanh cho 478 doanh nghiệp với tổng số vốn tăng 251,7 tỷ đồng. Trong những tháng đầu năm, tỉnh đã tiếp xúc với hơn 300 nhà đầu tư nước ngoài và ngoài tỉnh; đặc biệt là dự án xây dựng hạ tầng KCN, khu dân cư đô thị mới, khu du lịch sinh thái, các dự án đầu tư lĩnh vực dịch vụ, chế biến sâu khoáng sản, xây dựng hạ tầng kỹ thuật... đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 63 dự án với số vốn đăng ký trên 20.000 tỷ đồng; đã cấp giấy phép đầu tư cho 42 dự án với tổng vốn đăng ký gần 17.000 tỷ đồng.
[6] - Trong đó doanh nghiệp nhà nước 18,5 tỷ đồng, doanh nghiệp dân doanh 1.259 tỷ đồng, cá thể và hộ gia đình 1.892 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư nhà nước quản lý là 4.002 tỷ đồng, trong đó do Trung ương quản lý đạt 2.828,2 tỷ đồng (vốn ngân sách 66,9 tỷ đồng, vốn vay 2.640,4 tỷ đồng, vốn tự có của doanh nghiệp Nhà nước 120,7 tỷ đồng), tăng 16,3%; vốn do địa phương quản lý đạt 1.174 tỷ đồng, (ngân sách 991,6 tỷ đồng; vốn vay 30,7 tỷ đồng; vốn tự có của doanh nghiệp Nhà nước 2,34 tỷ đồng; vốn khác 150tỷ đồng), giảm 9,14% so với năm 2007.
[7] - Số liệu về thu,, chi ngân sách địa phương có báo cáo riêng.
- Tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế và dân cư tính đến thời điểm 31/12/2008 ước đạt 8.200 tỷ đồng, tăng 18,4%. Tổng dư nợ cho vay đến thời điểm 31/12/2008 ước đạt 11.100 tỷ đồng, tăng 23,6% so với 31/12/2006. Trong đó, dự nợ cho vay trung hạn và dài hạn ước đạt 6.040 tỷ đồng, tăng 9,3%; dự nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 5.060 tỷ đồng, tăng 40,9% so với năm 2007. Nợ xấu đến cuối năm 2008 ước khoảng 200 tỷ đồng, chiếm 1,8% tổng dư nợ.
[8] - Trong đó, ngành thương nghiệp đạt 5.631 tỷ đồng, tăng 26,7%; ngành khách sạn nhà hàng đạt 450 tỷ đồng, tăng 17,6%, du lịch lữ hành ước đạt 14,5 tỷ đồng, tăng 5,1%, doanh thu dịch vụ ước đạt 214,8 tỷ đồng, tăng 20,5%.so với năm trước.
- Lượng khách du lịch năm 2008 đạt 1.123,4 nghìn lượt người; trong đó có khoảng 30,4 nghìn khách quốc tế đến thăm quan, du lịch.
[9] - Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tỉnh năm 2008 ước đạt 121 triệu USD, đạt 178% kế hoạch, tăng 87% so với năm trước. Trong đó, khu vực địa phương xuất khẩu ước đạt 74,88 triệu USD, tăng 66,5%; khu vực Trung ương quản lý ước đạt 46,15 triệu USD, tăng 132% so với năm trước. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu năm 2008 nhưz: hàng may mặc ước đạt 43,4 triệu USD (chiếm 36% tổng giá trị xuất khẩu) tăng 83,4% so với cùng kỳ; thép cán 27,7 triệu USD, tăng 167%; nhóm sản phẩm kim loại màu như: thiếc thỏi, gang và quặng ti tan, quặng kẽm, kẽm thỏi đạt 11,6 triệu USD, tăng 95%; mặt hàng dụng cụ y tế, thú y và dụng cụ cầm tay ước đạt 11 triệu USD, tăng 42%. Riêng sản phẩm chè các loại xuất khẩu cả năm 2008 ước đạt 5,2 nghìn tấn tương đương 6,7 triệu USD, bằng 76,4% về lượng và bằng 84,2% về trị giá xuất khẩu cùng kỳ.
Giá trị nhập khẩu trên địa bàn năm 2008 ước đạt 144 triệu USD, bằng 72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu đạt trị giá gần 100 triệu USD, bằng 60% cùng kỳ (nhà nước 29 triệu USD, bằng 33,2% cùng kỳ; ngoài nhà nước 70 triệu USD, bằng 93% cùng kỳ); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu đạt giá trị trên 45 triệu USD, tăng 22% cùng kỳ.
[10] - Vận chuyển hành khách năm 2008 ước đạt 5,8 triệu lượt hành khách và 473 triệu lượt hành khách.km. So với cả năm 2007 tăng 44% về lượt khách và tăng 40% về lượt khách.km. Vận chuyển hàng hoá ước đạt 9.900 nghìn tấn và 293,4 triệu tấn.km, so với năm 2006, tăng 12% về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển. Doanh thu ước đạt 465 tỷ đồng, tăng 14,8% so với năm trước. Trong đó, doanh thu từ vận tải hàng hoá ước đạt 373 tỷ đồng, tăng 13,8%; doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 84 tỷ đồng, tăng 22%.
- Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 7 tuyến xe buýt đang hoạt động với trên 60 xe lưu chuyển hàng ngày, góp phần giảm bớt lượng người và xe lưu thông bằng xe máy trên địa bàn, hạn chế tại nạn giao thông và tăng số lượt khách tham gia giao thông từ dịch vụ vận tải so với cùng kỳ. Tích cực thực hiện dự án đầu tư xây dựng biển báo giao thông, nhà chờ, bãi dừng, đỗ xe buýt do Hàn Quốc tài trợ với trị giá trên 2 triệu USD tương đương với 1.000 biển báo giao thông.
[11] - Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 06 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông và 05 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát nên cơ bản đã phủ sóng di động và đáp ứng nhu cầu trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông của nhân dântrên toàn địa bàn tỉnh; mật độ điện thoại đạt mức 65,58 máy/100 dân, trong đó cố định đạt 15,33 máy/100 dân; toàn tỉnh có 13.692 thuê bao Internet, nâng tỷ lệ người dùng Internet ước đạt 14% dân số.
[12] - Tổng sản phẩm của ngành trong năm ước đạt 1.251 tỷ đồng, tăng 4,5% so với năm 2007, đóng góp 1,15% vào tốc độ tăng trưởng chung của toàn tỉnh. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2008 là 2.259.809 triệu đồng, tăng 6,99%. Trong đó trồng trọt tăng 6,24%, chăn nuôi tăng 9,88%, lâm nghiệp tăng 9,27%, thuỷ sản 2,82%; cơ cấu giá trị trong ngành là: nông nghiệp 95,98% (năm 2007: 95,88%), lâm nghiệp 1,94% (năm 2007: 2,14%), thuỷ sản là 2,09% (năm 2007: 1,98%). Trong nội ngành nông nghiệp cơ cấu từng lĩnh vực là: trồng trọt 62,3% (năm 2007: 62,58%), chăn nuôi 32% (năm 2007: 29,99%), dịch vụ trong nông nghiệp 5,7% (năm 2007: 7,43%).
- Diện tích lúa gieo trồng cả năm 68.856 ha giảm 1.368 ha so với năm 2007, Tuy diện tích lúa giảm nhưng năng suất lúa tăng 4,56% đạt 48,3 tạ/ ha nên sản lượng đạt 323.633 tấn (năm 2007: 324.468 tấn); Diện tích ngô 20.606 ha, tăng 2.818 ha so với năm 2007; năng suất bình quân đạt 40,81%, giảm 3%, sản lượng 84.602 tấn, tăng 13,09% so với năm 2007.
[13] - Diện tích chè trồng mới và cải tạo được 753 ha, đạt 125% kế hoạch. Tính đến năm 2007, tổng diện tích hiện có 16.984 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là 15.730 ha và sản lượng đạt 149,25 nghìn tấn, tăng 6,47% so với năm trước.
- Tổng diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh là 6.274 ha, bao gồm: Diện tích trồng mới rừng thuộc dự án 661 là 3.958 ha, dự án 135 là 279ha, rừng nguyên liệu 108ha, trồng rừng môi trường 122ha, rừng thâm canh 281ha, dự án 264 (TW) 120ha, dự án vay ngân hàng 250 ha, dân trồng 1.156 ha. Công tác khoán bảo vệ rừng 25.756 ha, đạt 99,9% kế hoạch; khoanh nuôi bảo vệ rừng 5.761 ha, đạt 105,6% kế hoạch; chăm sóc rừng trồng các năm 1.944,8 ha, đạt 86,3% kế hoạch.
[14] - Sản lượng gỗ khai thác năm 2008 đạt khá cao, dự ước 36,7 nghìn m3, tăng 26,7% so với năm 2007. Các cơ quan chức năng và các địa phương đã tiến hành lập biên bản và xử lý 1.118 vụ vi phạm; tịch thu 1.452m3 gỗ quy tròn, 289 phương tiện các loại; thu nộp vào tài khoản tạm giữ 5.595 triệu đồng.
- Năm 2008, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 8 vụ cháy rừng trồng với diện tích thiệt hại 11,13 ha.
[15] - Cho đến thời điểm hiện nay, đàn trâu toàn tỉnh có 106.880 con, giảm 1,59% so với cùng kỳ; đàn bò 55.000 con, giảm 3,51%; đàn lợn 529,1 nghìn con, tăng 3,95%; gia cầm 5,3 triệu con, tăng 8% so với cùng kỳ.
- Sản xuất thuỷ sản đã được đầu tư theo quy hoạch, khai thác tiềm năng mặt nước 4.550 ha, sản lượng thủy sản năm 2008 ước đạt 4.275 tấn, tăng 2,54% so với năm 2007.
[16] - Tổng thiệt hai do thiên tai gây ra trên địa bàn tỉnh từ những tháng đầu năm như sau: làm sập 15 nhà, hư hỏng và tốc mái 1.288 hộ, sạt lở 30,7km đường giao thông, đập kiên cố 3 cái, đập bán kiên cố 119 cái, kênh bị vỡ 6,7km, làm hỏng 793,3ha lúa, 114,4ha hoa mầu và làm chết 2.391 con gia súc, gia cầm.
- Tổng thiệt hai do mưa lũ từ 30/10 đến 3/11: làm 8 người chết, sập 6 nhà, sạt lở 17km đường giao thông và 2.400m3 đất, đá thuộc đường giao thông, bị hỏng 96 vai đập, cuốn trôi 5 đập kiên cố, đất vùi lấp kênh mương 4.551m, làm hỏng 946ha lúa, 1.620ha hoa mầu… ước tổng thiệt hại 85,3 tỷ đồng.
[17] - Trong lĩnh vực đất đai kiểm tra 20 đơn vị trên địa bàn: xử lý vi phạm hành chính 7 tổ chức và 6 cá nhân với số tiền 90 triệu đồng; về lĩnh vực khoáng sản phát hiện 09 điểm tang trữ khoáng sản trái phép lập biên bản tạm giữ 684.334 kg quặng sắt.
- Từ khi bắt đầu cấp GCNQSD đất đến nay trên địa bàn tỉnh đã cấp được 542.953 giấy CNQSD đất với diện tích đã cấp là 177.326 ha, đạt tỷ lệ 84,27%. Trong đó: có 540.345 hộ gia đinh cá nhân và 2.608 tổ chức.
[18] - Tỉnh Thái Nguyên đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho năm học mới về cơ sở vật chất, sách vở, như: xây dựng mới 317 phòng học, sửa chữa lớn 420 phòng học, đầu tư mua sắm thiết bị cho giảng dạy và học tập, tổ chức tập huấn bồi dưỡng phương pháp giảng dạy cho hơn 1.400 giáo viên lớp 12; cấp phát sách, đồ dùng học tập cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở các xã theo quy định.
- Trong đó hệ trung học phổ thông đạt 87,5%; hệ bổ túc đạt 91,8%; tuy nhiên chất lượng tốt nghiệp loại trung bình chiếm tỷ lệ khá cao là92,4%; loại khá chiếm 6,4% và loại giỏi chiếm tỷ lệ 1,2%.
- Số trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia tính đến tháng 10/2008 là 208 trường, chiếm 32,55% tổng số trường toàn tỉnh, trong đó mầm non 39 trường, tiểu học 134 trường, THCS 32 trường và PTTH 3 trường. Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2007-2008 có 42 em đạt giải, xếp thứ 9 toàn quốc, thi máy tính cầm tay có 22 em đạt giải, xếp thứ nhất khu vực phía Bắc.
[19] - Riêng phát hiện trong 10 tháng 2008 là 1.253 người. Trong tổng luỹ tích nhiễm HIV, có 1.803 người đã bị chuyển sang giai đoạn AIDS và đã có 1.075 người tử vong do AIDS (10 tháng 2008 đã phát hiện được 666 người bị nhiễm AIDS và 378 người đã tử vong do AIDS). Đến hết năm 2008 toàn tỉnh có 84/180 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
[20] - Tổng số quà tặng trong dịp Tết Nguyên Đán cho các đối tượng yếu thế trong tỉnh 23.929 suất, trị giá 2.940,58 triệu đồng; cứu trợ, cứu đói trong dịp Tết 3.294 hộ, trị giá 989,75 triệu đồng; thực hiện chính sách người có công với nước là 21.142 suất, trị giá 1.780,33 triệu đồng. Trong đó: quà của Chủ tịch nước 872 suất, trị giá 161,7 triệu đồng; quà của tỉnh là 59 suất, trị giá 27,8 triệu đồng; quà của các huyện, thành phố, thị xã là 9.687 suất, trị giá 1.163,79 triệu đồng và quà của các xã, phường, thị trấn là 10.524 suất, trị giá 427,07 triệu đồng; quà của các tổ chức, đoàn thể Trung ương là 1.396 suất, trị giá 198,2 triệu đồng.
[21] - Kết quả thực hiện chỉ tiêu dạy nghề sơ cấp và ngắn hạn 13.8680 người, đạt 106,7%. Trong đó: dạy nghề cho đối tượng chính sách 674 người, đạt 134,8%; lao động nông thôn 3.527 người, đạt 100,1%; cho người tàn tật 190 người và người nghèo 540 người; dạy nghề không có hỗ trợ từ ngân sách sách 8.280 người.
- Chỉ đạo thực hiện đúng, đủ, kịp thời chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng và điều chỉnh mức trợ cấp theo Nghị định 07/2008/NĐ-CP của chính phủ cho gần 20.000 đối tượng chính sách Người có công với kinh phí trên 190 tỷ đồng; tổ chức điều dưỡng người có công tại gia đình 3.310 người và điều dưỡng tập trung 1.020 người.
- Tính đến ngày 31/10/2008, đã thực hiện giải quyết chính sách cho 6.301/7.486 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (đạt 84,2%), trong đó đã ban hành 4.389 quyết định trợ cấp, đang niêm yết tại địa phương 899 trường hợp và 1.013 hồ sơ không đủ điều kiện hoặc thiếu yếu tố cần phải bổ sung, số hồ sơ còn lại phải duyệt tiếp 1.185 hồ sơ trong đó có 619 hồ sơ phải giám định y khoa, dự kiến trong tháng 12/2008 hoàn thành.
- Tính đến 30/10/2008 toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện mới cho 1.827 người nghiện ma túy, đạt 84,2%kế hoạch, ước cả năm đạt 100% kế hoạch; trong đó tại Trung tâm cấp tỉnh là 433 người; tại Trung tâm cấp huyện 326 người; tại gia đình, cộng đồng 1.068 người đạt 89,7% kế hoạch.
[22] - Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá, hầu hết các khu dân cư, các tổ dân phố có nhà văn hoá góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của các cộng đồng dân cư. Đến hết năm 2007, toàn tỉnh có 71,4% gia đình văn hóa, 36 % xóm, phố văn hoá, 80% cơ quan văn hoá.
[23] - Năm 2007, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh đã thực hiện được gần 6.000 tin, 1.600 bài trên sóng truyền hình; 7.700 tin, bài trên sóng phát thanh; chương trình tiếng dân tộc thực hiện được 4.000 tin, bài; thực hiện 7 chương trình truyền hình trực tiếp; duy trì đều và có chất lượng gần 30 chuyên mục, chuyên đề trên sóng truyền hình và trên 20 chuyên mục, chuyên đề trên sóng phát thanh.
[24] - Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã nghe và cho ý kiến vào đề án xây dựng quy trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính của cácSở ngành như: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Nội vụ và Văn phòng UBND tỉnh. Đề án xây dựng quy trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính của UBND: thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và huyện Phổ Yên. Thực hiện cơ chế một cửa liên thông để thu hút đầu tư do Sở Kế hoạch và Đầu tư làm thường trực (các đơn vị tham gia: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công nghiệp, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Nội vụ và Văn phòng UBND tỉnh).
Nguồn: Thainguyen.gov.vn
Tác giả: Phòng Biên tập Trị sự