Trải dài từ những vùng núi cao quanh năm mây phủ đến những khu vực có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đặc trưng, các vùng chè phía Bắc Thái Nguyên mang trong mình nhiều sắc thái riêng. Shan Tuyết cổ thụ Đồng Phúc, Yên Bình; chè hoa vàng Bạch Thông, Chợ Đồn; cùng những vùng chè đặc sản Mỹ Phương, Chợ Mới ... đang tạo nên một bức tranh đa dạng về hương vị, giống chè và cách chế biến, góp phần làm phong phú thêm vùng chè Thái Nguyên.
Chè Shan Tuyết không chỉ là cây trồng, mà còn là ký ức, là sinh kế và là một phần hồn cốt của cộng đồng người dân Làng nghề Chè Shan Tuyết Bằng Phúc
Trên những triền núi cao hơn 800 m, chè Shan Tuyết cổ thụ sinh trưởng giữa điều kiện khí hậu mát mẻ, tạo nên một vùng chè mang đặc trưng riêng của núi rừng phía Bắc Thái Nguyên. Búp chè Shan Tuyết phủ lớp lông tơ trắng đặc trưng. Qua chế biến, chè cho nước vàng óng, vị đậm, hậu ngọt và hương thơm riêng - những đặc điểm tạo nên giá trị của dòng chè vùng cao.
Từ những cây chè gắn bó qua nhiều thế hệ, người dân các vùng chè Shan Tuyết đang từng bước chú trọng hơn đến quy trình chăm sóc, thu hái và chế biến, nhằm giữ chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm
Đồng Phúc là một trong những vùng chè Shan Tuyết tiêu biểu của khu vực phía Bắc Thái Nguyên. Chè Shan Tuyết nơi đây đã được cấp chứng nhận Nhãn hiệu tập thể "Chè Shan Tuyết Đồng Phúc" năm 2018. Đặc biệt, 12 cây chè Shan Tuyết tại Đồng Phúc được công nhận là Cây Di sản Việt Nam vào cuối tháng 12/2025 đã khẳng định giá trị, tầm quan trọng của vùng chè, đồng thời mở ra cơ hội quảng bá, nâng tầm thương hiệu sản phẩm.
Chè Shan Tuyết tại xã Yên Bình phát triển tốt ở độ cao trên 800 m so với mực nước biển
Sản phẩm được chế biến từ búp chè Shan Tuyết bằng phương pháp lên men tự nhiên đang trở thành điểm nhấn trong danh mục sản phẩm của HTX Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc, xã Yên Bình
Cùng với Đồng Phúc, Yên Bình cũng hình thành vùng chè Shan Tuyết mang những nét riêng về điều kiện sinh thái và phương thức sản xuất. Chè Shan Tuyết nơi đây phát triển tốt ở độ cao trên 800 m so với mực nước biển, tạo ra các sản phẩm mang đặc trưng riêng của vùng núi cao. Những sản phẩm từ vùng chè này đang từng bước được chế biến và giới thiệu rộng hơn đến người tiêu dùng.
Chè hoa vàng là loài cây dược liệu quý hiếm đang được người dân các xã Bạch Thông, Chợ Đồn bảo tồn và mở rộng diện tích
Không chỉ có Shan Tuyết, vùng núi phía Bắc còn có chè hoa vàng - loài cây bản địa đang được nhiều địa phương quan tâm bảo tồn và phát triển. Từ những bông hoa được thu hái, sơ chế và chế biến thành trà, sản phẩm vốn quen thuộc trong đời sống người dân nay từng bước được các cơ sở đầu tư công nghệ cao vào sản xuất, nâng cao giá trị và trở thành sản phẩm hàng hóa đặc trưng của vùng.
Cùng với mở rộng vùng nguyên liệu, các cơ sở sản xuất đầu tư kỹ thuật và công nghệ chế biến, tạo ra những sản phẩm trà hoa vàng đa dạng, phù hợp với nhu cầu sử dụng và thị trường
Khai thác tiềm năng, phát huy lợi thế của địa phương, một số doanh nghiệp và hợp tác xã ở khu vực phía Bắc đã chủ động đầu tư phát triển vùng nguyên liệu chè hoa vàng. Điển hình như Công ty TNHH Hà Diệp đã đầu tư trồng chè hoa vàng với quy mô hơn 3.000 gốc chè hay Hợp tác xã Nông nghiệp Công nghệ cao BK FOODS đã liên kết với người dân phát triển 45 ha vùng trồng. Đến nay, sản phẩm trà hoa vàng của cả hai đơn vị đều đã đạt chứng nhận OCOP 4 sao và ngày càng mở rộng thị trường tiêu thụ.
Người dân thôn Mĩ Phương 2, xã Thượng Minh thu hái chè
Người dân bản Dao Nà Pán, xã Phong Quang thu hái chè Toàn khu vực phía Bắc Thái Nguyên hiện có hơn 2.100 ha chè, sản lượng khoảng 8.000 tấn/năm. Mỗi vùng nguyên liệu, với điều kiện tự nhiên và cách chế biến riêng, đang góp thêm những sắc thái khác nhau cho bức tranh chè của tỉnh.

Không gian phát triển chung của Thái Nguyên mở ra điều kiện để các vùng chè phía Bắc tăng cường kết nối với các vùng chè khác trong tỉnh, đồng thời có thêm cơ hội tiếp cận thị trường, công nghệ chế biến và hoạt động quảng bá sản phẩm
Từ những cây Shan Tuyết cổ thụ trên núi cao, những vườn chè hoa vàng đến các vùng chè đặc sản khác, mỗi vùng đất góp một hương vị riêng. Sự đa dạng ấy tạo nên bức tranh phong phú về chè vùng núi phía Bắc trong không gian chè Thái Nguyên.